CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Với số lượng ngày càng tăng của các phân tích và tài liệu nghiên cứu đề cập đến hiệu quả hoạt động, cần phải có hiểu biết cơ bản về định nghĩa hoạt động tài chính và các thước đo khác nhau của nó, (Burkhardt, 2013). Bởi vậy, trong phần này sẽ đề cập đến khái niệm hiệu quả hoạt động và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tại các NHTM. Khái niệm hiệu quả hoạt động Hiệu quả hoạt động của một chủ thể kinh tế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Burkhardt & Wheeler (2013) cho rằng hiệu quả hoạt động và lợi nhuận tài chính thường được sử dụng như những thuật ngữ có thể thay thế cho nhau bởi hiệu quả hoạt động đề cập đến mức độ mà các mục tiêu kinh tế đã hoặc đang được hoàn thành. Đây là quá trình đo lường kết quả của các chính sách và hoạt động của một công ty bằng tiền tệ. Nó được sử dụng để đo lường sức khỏe tài chính tổng thể của công ty trong một khoảng thời gian nhất định và cũng có thể được sử dụng để so sánh các công ty tương tự trong cùng một ngành hoặc để so sánh các ngành hoặc lĩnh vực trong tổng thể (Donthi Ravinder & Muskula Anitha, 2013). Theo Nguyễn Khắc Minh (2006) thì "hiệu quả - efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ" và "khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào".
Như vậy, có thể hiểu hiệu quả hoạt động là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hoá sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho. Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả còn được gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng cực tiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu 11 được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hoá doanh thu, hoặc phân bổ các đầu vào và đầu ra sao cho cực đại hoá lợi nhuận.
Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận). Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý.nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Về bản chất, ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Ngân hàng Trung ương Châu Âu ((ECB), 2010) cho rằng hiệu quả hoạt động của một ngân hàng được định nghĩa là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.
Trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh: (i) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác và (ii) Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Có thể thấy rằng khái niệm hiệu quả vẫn chưa được thống nhất, dưới những lĩnh vực khác nhau, góc độ khác nhau hiệu quả sẽ được đề cập và nhìn nhận khác nhau. Điển hình trong trường hợp của ngân hàng thương mại, hiệu quả kinh doanh có thể được phản ánh qua ba góc độ: của ngân hàng, của kinh tế – xã hội, và của khách hàng. Theo góc độ của ngân hàng hiệu quả kinh doanh được hiểu là sử dụng các yếu tố đầu vào (như nhân lực, nguồn lực, tài lực, và vật lực) tốt nhất để đạt được tối đa đầu ra (lợi nhuận) và khả năng cạnh tranh gia tăng.
Ngược lại, theo góc độ của các khách hàng thì hiệu quả kinh doanh lại thể hiện qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trên thị trường. Mặt khác, trên góc độ kinh tế – xã 12 hội, hiệu quả kinh doanh được phản ánh qua mối quan hệ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng với phát triển kinh tế xã hội hoặc qua vấn đề việc làm. Tóm lại, trong nghiên cứu này, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được đề cập đến chủ yếu trên khía cạnh những kết quả kinh doanh đạt được, thể hiện qua các chỉ tiêu tài chính của các ngân hàng. Những chỉ tiêu cụ thể sẽ được đề cập đến ở phần tiếp theo của khóa luận.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù thể hiện sự phát triển theo chiều sâu, phản ánh mức độ sử dụng các nguồn lực với chi phí ít nhất đem lại hiệu quả cao nhất. Hiệu quả kinh doanh trong ngân hàng có thể được đánh giá theo hai phương diện: định tính hoặc định lượng. Về mặt định tính, hiệu quả hoạt động được đánh giá thông qua quá trình ra quyết định của ngân hàng trong quá trình hoạt động. Thông thường, các chính sách và chiến lược được coi là phù hợp.
Có một hệ thống giám sát và kiểm soát hiệu quả không? Việc đánh giá trình độ chuyên môn của nhân viên đảm bảo cho việc thực hiện thành công các chính sách, thực hiện hiệu quả các chiến lược của các nhà quản lý cũng rất quan trọng. Các chỉ tiêu này sẽ giúp chúng ta đánh giá được ngân hàng đang hoạt động và phát triển có hiệu quả hay không về chất lượng. Về mặt định lượng, có rất nhiều mô hình, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nhìn chung, để lượng hóa, xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh về mọi mặt, chúng ta thường sử dụng các chỉ tiêu định lượng.
Do các chỉ tiêu định tính mang tính chủ quan của người đánh giá nên các chỉ tiêu định lượng có thể cho chúng ta biết ngân hàng có thực sự hoạt động hiệu quả hay không. Các chỉ tiêu định lượng thường được sử dụng làm mục tiêu lợi nhuận, nó phản ánh tình hình kinh doanh một cách tổng quát. Như đã đề cập đến ở phía trên, hiệu quả hoạt động trong nghiên cứu này được hiểu tại mức độ hẹp và phổ biến, thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động và được dùng để dự báo thu nhập của ngân hàng. Việc đo lường hiệu quả hoạt động có thể bị ảnh hưởng bởi mục tiêu của doanh nghiệp và sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Đo lường hiệu quả hoạt động thường dựa trên theo các chỉ số: lợi nhuận trên tổng tài sản - ROA, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu - ROE, thu 13 nhập trên mỗi cổ phiếu - EPS; Giá thị trường theo tỷ lệ giá trên thu nhập - P / E, vốn hóa thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu - MBRV. Nếu thị trường chứng khoán kém phát triển, việc đo lường hiệu quả thị trường sẽ không mang lại kết quả tốt. Nếu đo lường theo giá trị sổ sách, kết quả hoạt động tài chính thể hiện mối quan hệ giữa thu nhập và các chỉ tiêu khác, được xây dựng từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp nên kết quả phụ thuộc vào độ chính xác và trung bình. Trong khi đó báo cáo tài chính thường có tính xác thực và chính xác cao, vì vậy, cách đánh giá hiệu quả hoạt động được sử dụng phổ biến nhất thường là qua chỉ số ROA và ROE.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu ROE là một tỷ lệ cung cấp cho các nhà đầu tư cái nhìn sâu sắc về mức độ hiệu quả của một công ty (hoặc cụ thể hơn là đội ngũ quản lý của công ty) đang xử lý số tiền mà các cổ đông đã đóng góp vào nó. Nói cách khác, nó đo lường lợi nhuận của một công ty liên quan đến vốn chủ sở hữu của các cổ đông. ROE càng cao, công ty quản lý càng hiệu quả trong việc tạo ra thu nhập và tăng trưởng từ nguồn vốn chủ sở hữu. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản ROA là một chỉ số đánh giá mức độ lợi nhuận của một công ty so với tổng tài sản của nó.
ROA đưa ra ý tưởng về mức độ hiệu quả của việc quản lý sử dụng tài sản của nó để tạo ra thu nhập. Được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm của một công ty cho tổng tài sản của nó, ROA được hiển thị dưới dạng phần trăm. Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng có thể được chia thành hai nhóm: nhóm yếu tố mang tính đặc thù của ngân hàng (hay còn gọi là nhóm nhân tố bên trong) và nhóm yếu tố bên ngoài (Gul và các cộng sự, 2011; Sehrish và các cộng sự, 2011). Các nhân tố mang tính đặc thù của ngân hàng thường chịu ảnh hưởng của các quyết định của các nhà quản lý ngân hàng và các mục tiêu cần đạt được của ngân hàng (Staikouras and Wood, 2004).