Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 2. Cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng 2. Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh. Quan điểm khác cho rằng: “Hiệu quả hoạt động là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu ra để đạt được kết quả đó”. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả hoạt động ngân hàng là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tài chính, .) để đạt được mục tiêu xác định.
Do đó, có thể mô tả hiệu quả hoạt động ngân hàng như sau: Hiệu quả = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào (1) Hoặc Hiệu quả = Kết quả đầu ra/Chi phí đầu vào (2) Với khái niệm về hiệu quả hoạt động được trình bày ở trên, hiệu quả hoạt động ngân hàng được phản ánh qua các chỉ tiêu sau đây: Lợi nhuận = Tổng doanh thu và thu nhập – Tổng chi phí (3) Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tiếp cận hiệu quả hoạt động của ngân hàng theo hướng lợi nhuận, tức hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được đánh giá bằng cách so sánh doanh thu và lợi nhuận ngân hàng thu được với chi phí mà ngân hàng đã bỏ ra trong một khoảng thời gian nhất định. Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả hoạt động và quan điểm đánh giá hiệu quả hoạt động, vì vậy có thể khái quát nội dung phân tích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng theo khác khía cạnh sau: Thứ nhất, đo lường hiệu quả hoạt động theo khả năng sinh lời – Phản ánh hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh: bao gồm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), … Thứ hai, đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh trên phương diện chỉ số thị trường – Hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường bằng các chỉ tiêu như giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), Tỷ số giá sổ sách trên thu nhập (P/B), hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS), … Thứ ba, đo lường hiệu quả hoạt động thông qua chỉ số đo lường hiệu quả kinh tế – Mức lợi nhuận kinh tế thật sự mà một ngân hàng tạo ra thông qua sự gia tăng về giá trị. Hai chỉ số chủ yếu được sử dụng là giá trị kinh tế gia tăng (EVA – Economic Value Added) và Tỷ suất sinh lợi có điều chỉnh rủi ro RAROC (Risk – Adjusted Return On Capital). Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở khía cạnh khả năng sinh lời mà cụ thể là suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tổng nguồn vốn (ROE) của ngân hàng.
Bời vì ROA và ROE phản ánh được hiệu quả quản lý của ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực để tạo ra lợi nhuận (Naceur – The determinants of Commercial Bank Interest Margin and Profitability: Evidence from Tunisia - 2003). Cơ sở lý luận cấu trúc vốn 2. Cấu trúc vốn Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Quan điểm truyền thống cho rằng, một cấu trúc vốn tối ưu là tại đó chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp là thấp nhất và do đó tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
Quan điểm này được xây dựng trên các giả định: thị trường tài chính không hoàn hảo, doanh nghiệp và nhà đầu tư không thể vay nợ với lãi suất như nhau; doanh nghiệp tiềm ẩn rủi ro kiệt quệ tài chính do sử dụng nợ. Tuy nhiên, nếu mức độ sử dụng nợ thấp thì chủ sở hữu và chủ nợ có thể không điều chỉnh suất sinh lợi kỳ vọng, hoặc có điều chỉnh nhưng không đáng kể. Từ đó cho thấy, có mối quan hệ tồn tại giữa mức độ sử dụng nợ trong cấu trúc vốn với chi phí sử dụng vốn, từ đó có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải cân nhắc khi đưa ra các quyết định về cấu trúc vốn.
Các lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp ❖ Lý thuyết Modigliani và Miller Lý thuyết hiện đại về cấu trúc vốn được nhóm tác giả Franco Modigliani và Merton Miller (The cost of capital, corporation finance and the theory of investment – 1958) dựa trên các giả định quan trọng sau đây: (i) giả định về thuế; (ii) giả định về chi phí giao dịch; (iii) giả định về chi phí khó khăn tài chính; (iv) giả định về thị trường hoàn hảo. Lý thuyết Modigliani và Miller (1958) được phát biểu thành hai mệnh đề quan trọng. Mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị doanh nghiệp. Mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn.
Các mệnh đề này được xem xét trong hai trường hợp ứng với hai giả định chính là có thuế và không có thuế. ❖ Lý thuyết Modigliani và Miller trong trường hợp không có thuế Năm 1958, Franco Modigliani và Merton Miller nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí vốn và cấu trúc vốn với các giả định bao gồm: Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân; không có chi phí giao dịch; không có chi phí phá sản và chi phí khốn khó tài chính; nhà đầu tư và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau; lợi nhuận kỳ vọng hàng năm không đổi; thị trường vốn là thị trường hoàn hảo. Với những giả định như này, lý thuyết Modigliani và Miller phát biểu thành hai mệnh đề sau đây: Mệnh đề I: Giá trị doanh nghiệp trong trường hợp không có thuế Tác giả Franco Modigliani và Merton Miller (1958) đã phát biểu rằng: trong điều kiện không có thuế, giá trị doanh nghiệp có vay nợ (VL) bằng giá trị của doanh nghiệp không có vay nợ (VU), nghĩa là VU = VL. Mệnh đề này có thể phát biểu theo cách khác là trong điều kiện không có thuế, giá trị doanh nghiệp có vay nợ và không vay nợ là như nhau.
Do đó, cấu trúc vốn không có ảnh hưởng gì đến giá trị doanh nghiệp. Vì vậy, không có cấu trúc vốn nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. 9 Mệnh đề II: Chi phí sử dụng vốn trong trường hợp không có thuế Tác giả Franco Modigliani và Merton Miller (1958) còn phát biểu rằng: trong điều kiện không có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn chủ sở hữu có quan hệ cùng chiều với cấu trúc vốn; chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi bất chấp cấu trúc vốn thay đổi như thế nào. Về mặt toán học, mệnh đề II có thể được biểu diễn qua các công thức lợi nhuận yêu cầu trên vốn chủ sở hữu (rE) và chi phí sử dụng vốn bình quân (rWACC) dưới đây.
𝐷 𝑟𝐸 = 𝑟𝑈 + (𝑟𝑈 − 𝑟𝐷 )(1 − 𝑇𝐶 ) (1) 𝐸 𝐷 𝐸 𝑟𝑊𝐴𝐶𝐶 = (1 − 𝑇𝐶 )𝑟𝐷 + 𝑟𝐸 (2) 𝑉𝐿 𝑉𝐿 Như vậy, khi có thuế thu nhập doanh nghiệp, lợi nhuận yêu cầu trên vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên, giá trị doanh nghiệp cũng tăng lên trong trường hợp có sử dụng nợ vay và đạt giá trị cực đại khi doanh nghiệp được tài trợ bằng 100% nợ vay. ❖ Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Static trade – off theory) Lý thuyết Modigliani và Miller chưa xem xét tác động của một số chi phí khác khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi doanh nghiệp gia tăng tỷ số nợ. Đó chính là tác động của chi phí khốn khó tài chính. Khi doanh nghiệp gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của doanh nghiệp tăng theo.
Điều này làm phát sinh chi phí khốn khó tài chính tác động đồng thời với lợi ích của tấm chắn thuế. Tác động tổng hợp hai yếu tố thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí khốn khó tài chính phát sinh trong quá trình sử dụng nợ với những tác động ngược chiều nhau đã hình thành lý thuyết cấu trúc vốn tối ưu thể hiện ở hình 1.1 cho thấy, giá trị lớn nhất của doanh nghiệp (VL*) đạt được ở mức nợ tối ưu (D*). Nói cách khác, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp là D*/VL* xét trên khía cạnh nợ và (1 –D*/VL*) xét trên khía cạnh vốn chủ sở hữu. Giá trị thực tế của doanh nghiệp được xác định theo công thức dưới đây: Giá trị thị trường Giá trị thị trường Hiện giá của Hiện giá của chi của DN có sử = của DN không sử + tấm chắn phí khốn khó tài – dụng nợ dụng nợ thuế chính Hàm ý chính của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn đó là, các nhà quản lý khi quyết định một tỷ số nợ phải chấp nhận sự đánh đổi giữa lá chắn thuế của nợ và các chi phí khốn khó tài chính.
Bởi vì, vay nợ có một lợi thế quan trọng đối với chủ sở hữu đó là được khấu trừ thuế thu nhập khi chủ sở hữu thuộc diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhưng vay nợ cũng làm tăng rủi ro tài chính nếu doanh nghiệp tài trợ bởi nợ vay có chi phí nợ không nhỏ hơn so với chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu. Dựa trên sự cân bằng giữa lợi ích tấm chắn thuế của nợ và chi phí khốn khó tài chính sẽ có một cấu trúc vốn tối ưu cho doanh nghiệp.