Chương 1. NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm về nợ xấu Trên thế giới, có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nhắc đến định nghĩa về “Nợ xấu”, tùy thuộc vào cách tiếp cận và góc nhìn của các nhà nghiên cứu. Ở môi trường quốc tế, nợ xấu có thể được gọi là “Non-performing loan”, hoặc có thể được diễn đạt là “Bad debt” hay thậm chí là “Doubful debt” (Fofack, 2005).
Nhìn chung, khái niệm nợ xấu là không hoàn toàn nhất quán ở các quốc gia khác nhau. Sau đây là một số khái niệm thường được nhắc đến về nợ xấu: Theo Nhóm chuyên gia tư vấn của Liên hợp quốc – Advisory Expert Group (AEG, 2014): “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi các khoản thanh toán lãi và/hoặc gốc quá hạn từ 90 ngày trở lên hoặc các khoản thanh toán lãi từ 90 ngày trở lên đã được vốn hóa, tái cấp vốn hoặc bị trì hoãn theo thỏa thuận, hoặc các khoản thanh toán quá hạn dưới 90 ngày, nhưng có những lý do chính đáng khác - chẳng hạn như con nợ nộp đơn xin phá sản - để nghi ngờ rằng các khoản thanh toán sẽ được thực hiện đầy đủ. Sau khi một khoản vay được phân loại là nợ xấu, khoản vay đó (và có thể cả (các) khoản vay thay thế) vẫn phải được phân loại như vậy cho đến khi được xóa nợ hoặc nhận được các khoản thanh toán lãi và/hoặc gốc.” Cùng quan điểm với AEG, theo Hướng dẫn Tổng hợp về Chỉ số An toàn Tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF (2006), được diễn giải như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi (1) quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 03 tháng 8 (90 ngày) hoặc hơn; hoặc (2) khi các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ (đây là các khoản vay đã được trì hoãn theo thỏa thuận); hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ không được thực hiện đầy đủ, chẳng hạn như người đi vay phá sản”. Hướng dẫn của IMF cho rằng: “Nguyên tắc quá hạn 90 ngày là giới hạn bên ngoài và không có ý ngăn cản các phương pháp chặt chẽ hơn.
Số tiền cho vay (và các tài sản khác) được ghi nhận là nợ xấu phải là tổng giá trị của khoản vay được ghi trên BCĐKT, chứ không chỉ là số tiền quá hạn. Nói cách khác, việc xác định nợ xấu bao gồm hai yếu tố: (i) Quá hạn trên 90 ngày và (ii) Sự không chắc chắn về khả năng trả nợ. Căn cứ vào Khoản 8 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh NH nước ngoài thì Nợ xấu là nợ xấu nội bảng, bao gồm nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). (NHNN, 2021) Tóm lại, tuy có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về khái niệm nợ xấu, nhưng đa số các quan điểm đều cho rằng, việc xác định nợ xấu dựa vào hai tiêu chí: (i) thời gian trả nợ quá hạn trên 90 ngày và (ii) sự hoài nghi về khả năng thanh toán nợ đến hạn và/hoặc quá hạn của người đi vay.
Phân loại nợ xấu Theo Laurin & Majnoni (2003), hiện chưa có một chuẩn mực kế toán cụ thể trong việc đánh giá và phân loại nợ khi so sánh giữa một số quốc gia với nhau. Bholat và cộng sự (2016) cũng đồng tình với quan điểm trên. Phân loại nợ là quá trình của ngân hàng hoặc tổ chức tài chính xác định và phân nhóm các khoản nợ của khách hàng dựa trên mức độ rủi ro và khả năng thu 9 hồi. Quá trình này giúp ngân hàng đánh giá rủi ro tín dụng và quản lý các khoản nợ hiệu quả.
Giữa các quốc gia khác nhau có sự đa dạng trong việc phân loại và lập dự phòng, gây ra nhiều khó khăn cho việc phân loại nợ cả trên lý thuyết và thực tế. Từ đó, Ủy ban Basel hướng tới việc thống nhất chung tiêu chuẩn trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro ở các quốc gia đã đưa ra các hướng dẫn và nguyên tắc nhưng không đưa ra một hệ thống phân loại nợ cụ thể hay các quy trình được chuẩn hóa để đánh giá rủi ro tín dụng. Trên thế giới, các quốc gia khác nhau thì có tiêu chí phân loại nợ khác nhau. Nhằm so sánh, tham khảo cách thức, tiêu chí phân loại nợ, Laurin & Majnoni (2003) đã thu thập quy định về phân loại nợ của một số quốc gia tiên tiến, cụ thể như sau: Bảng 2.
Quy định về phân loại nợ ở một số quốc gia trên thế giới Số nhóm STT Quốc gia Chi tiết nợ 1 Pháp 3 Nợ nghi ngờ, nợ dưới chuẩn và nợ quá hạn Nợ không có rủi ro rõ ràng, Nợ có rủi ro tiềm 2 Đức 4 tàng, Nợ xấu, Nợ khó đòi Nợ đủ tiêu chuẩn, Nợ cần chú ý, Nợ dưới 3 Ý 5 chuẩn, Nợ đang được cơ cấu, Nợ cơ cấu Tối thiểu là có 5 nhóm nợ. Tuy nhiên, Chính 4 Hoa Kỳ 5 phủ khuyến khích nên phân loại thận trọng và chi tiết hơn. Gồm 5 nhóm nợ, tương ứng với 5 mức trích 5 Argentina 5 lập dự phòng là 1%, 3%, 25%, 75% và 100%. Gồm 9 nhóm nợ, cùng với 9 mức trích lập dự phòng như sau: AA (0%), A (0,5%), B (1%), 6 Brazil 9 C (3%), D (10%), E (30%), F (50%), G (70%) và H (100%).
10 Gồm có 7 nhóm nợ theo mức độ rủi ro của quốc gia, ngành và quá trình thanh toán, rủi ro tài chính. Chia làm 7 nhóm A-1 (0,5%); 7 Mexico 7 A-2 (0,99%), B (1-20%); C-1 (20%-40%), C-2 (40%-60%); D (60-90%); và nhóm E (100%) Nguồn: Laurin & Majnoni (2003). Tại Việt Nam, việc phân loại nợ xấu được quy định tại Thông tư 11/2021/TT-NHNN có hiệu lực từ 01/10/2021. Hiện nợ xấu được phân loại cụ thể trên CIC – Tổ chức tín dụng quốc gia Việt Nam.
Hệ thống CIC đánh giá lịch sử nợ theo 5 nhóm sau: Bảng 2. Quy định về phân loại nợ tại Việt Nam Nhóm Theo phương pháp định Theo phương pháp Tên gọi nợ tính định lượng Được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ Nợ đủ tiêu - Nợ trong hạn, hoặc Nhóm 1 gốc và lãi đã quá hạn và chuẩn - Nợ quá hạn dưới 10 ngày thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn Có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi. Tuy nhiên, Nợ cần chú Nợ quá hạn từ 10 ngày đến Nhóm 2 khách hàng có dấu hiệu ý 90 ngày. suy giảm khả năng trả nợ.
Không có khả năng thu Nợ dưới Nợ quá hạn từ 91 ngày đến hồi nợ gốc và lãi khi đến Nhóm 3 tiêu chuẩn 180 ngày. hạn, có khả năng tổn thất. 11 Nợ nghi Có khả năng tổn thất cao. Nợ quá hạn từ 181 ngày đến Nhóm 4 ngờ bị mất 360 ngày.
vốn Nợ có khả Mất khả năng thu hồi, có Nhóm 5 năng mất Nợ quá hạn trên 360 ngày. khả năng mất vốn. vốn Nguồn: Thông tư số 11/2021/TT-NHNN 2. KHUNG LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2.
Lý thuyết chu kì kinh tế (Business Cycle Theory) Theo Paul A Samuelson và William D Nordhalls (1948): “Chu kỳ kinh doanh là một sự dao động của tổng sản lượng quốc dân, của thu nhập và việc làm thường kéo dài trong một giai đoạn được đánh dấu bằng một sự mở rộng hay thu hẹp trên quy mô lớn trong hầu hết các khu vực của nền kinh tế, thường trong một khoảng thời gian từ 02 - 10 năm”. Các nhà kinh tế thường chia chu kỳ kinh tế thành hai giai đoạn chính: giai đoạn suy thoái và giai đoạn mở rộng, điểm cự trị của các đỉnh và đáy là giai đoạn chuyển hướng của chu kỳ, sự đi xuống của một chu kỳ gọi là suy thoái - là một giai đoạn mà trong đó GDP thực tế giảm xuống ít nhất trong hai quý liên tiếp - suy thoái bắt đầu tại một đỉnh và kết thúc tại một đáy. Trong giai đoạn suy thoái cầu về lao động giảm làm thất nghiệp gia tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, giá chứng khoán thường sẽ giảm xuống khi các nhà đầu tư cảm nhận được chu kỳ kinh tế đi xuống. Giai đoạn mở rộng là hình ảnh phản chiếu của suy thoái, mỗi yếu tố trên sẽ hoạt động theo chiều ngược lại.
Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau. Tùy vào tình trạng nền kinh tế đang trong giai đoạn nào mà các ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng mở rộng hoặc thu hẹp. Ở giai đoạn GDP tăng (tăng trưởng kinh tế) có ý nghĩa rằng thu nhập của người dân được cải thiện. Từ đó, tăng khả năng chi trả nợ vay, do đó tỷ lệ nợ xấu giảm và ngược lại khi nền kinh tế đi vào suy thoái thì sẽ là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ 12 nợ xấu.
Lý thuyết này vận dụng để giải thích mối quan hệ của các yếu tố vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế v. đến nợ xấu. Quy mô ngân hàng Theo giả thuyết “Quá lớn để phá sản” (too big to fail) của Boyd và Gertler (1994) cho rằng yếu tố quy mô ngân hàng và nợ xấu có mối quan hệ tương quan với nhau. Giả thuyết này cho rằng những ngân hàng lớn chấp nhận mạo hiểm và rủi ro quá mức bằng cách tăng sử dụng vốn cho vay của mình với chất lượng khách hàng thấp dẫn đến nợ xấu leo thang, Stern và Feldman (2004) lập luận rằng: “Mối quan hệ này là do kỷ luật của thị trường sẽ không áp đặt đối với các NHTMCP lớn, và chính phủ thường có chính sách bảo vệ các ngân hàng lớn nếu có nguy cơ phá sản”.
Theo đó, quy mô NHTMCP càng lớn thì rủi ro tín dụng càng cao, và nếu quy mô ngân hàng đạt ngưỡng giới hạn nhất định thì rủi ro tín dụng cao nhất. Ngược lại với giả thuyết “Quá lớn để phá sản”, giả thuyết “hiệu ứng quy mô” (size effect), Salas và Saurina (2002) cho rằng các ngân hàng có quy mô lớn cho phép cơ hội đa dạng hóa nhiều hơn. Cụ thể, ngân hàng có tầm cỡ, quy mô lớn sẽ có nhiều tài nguyên và kinh nghiệm hơn trong công tác xử lý và phân tích đánh giá chất lượng tín dụng của người đi vay. Từ đó, tạo điều kiện cho ban lãnh đạo các ngân hàng tham gia vào các thị trường đầu tư để cải thiện quy trình tín dụng, làm gia tăng lợi nhuận giảm thiểu nợ xấu.