CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1. Rủi ro tín dụng 1. Khái niệm rủi ro tín dụng Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. “Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chính ảnh hưởng đến sự ổn định của các tổ chức ngân hàng.
Trong ngành ngân hàng, rủi ro tín dụng thường được định nghĩa là xác suất người vay không thể thực hiện cam kết vay của mình. Ken Brown và Peter Moles (2014) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng có thể là do người nợ không đáp ứng được nghĩa vụ, nhưng trong một số trường hợp, điều này có thể là do sự thay đổi bất lợi về chất lượng tín dụng dẫn đến tổn thất. Có rất nhiều sự kiện có thể ảnh hưởng đến tín dụng, điều này làm phức tạp cho việc định nghĩa, phân tích và quản lý quy trình. Rủi ro tín dụng có thể được xem như một vấn đề thông tin.
Người cho tín dụng không biết đủ về chất lượng của người vay và cách thức người nợ sẽ thực hiện trong tương lai.” Như vậy, có rất nhiều bài nghiên cứu trên thế giới đưa ra các định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng nhưng điểm đồng nhất mà có thể hiểu khái quát nhất về rủi ro tín dụng: rủi ro tín dụng là những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ khi khoản nợ đến hạn. Rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng đến hoạt động tương lai, làm giảm lợi nhuận cũng như uy tín của ngân hàng. Phân loại ● Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: 7 - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
- Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSĐB. - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. ● Rủi ro tác nghiệp Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. ● Rủi ro danh mục Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
- Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. - Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng, điển hình nhất có ba chỉ số được ứng dụng nhiều để đánh giá nợ xấu bao gồm: Tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng.
Các chỉ tiêu trên có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. ● Tỷ lệ nợ xấu: Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN, nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5. Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ 8 khi đến hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu.
𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 3 + 𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 4 + 𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 5 Tỷ lệ nợ xấu = = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Trong đó: Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) là: các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn; Trừ khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1), khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn. Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận. Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.
Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) là những khoản nợ quá hạn 181 ngày đến 360 ngày. Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn.
Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) là khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên. Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được. Theo quan điểm cá nhân, nợ xấu là khoản vay đã quá hạn thanh toán hơn 90 ngày, khách hàng không có đủ khả năng hoặc mất khả năng hoàn trả số tiền đã vay đúng hạn cho tổ chức tài chính. Lúc này, chủ thể cho vay sẽ mất đi một khoản vốn, hơn nữa tài sản bảo đảm không thể thu hồi vốn ban đầu.
Tỷ lệ nợ xấu giúp đánh giá mức độ rủi ro và chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Nghị định số 116/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/9/2020, về quản lý, sử dụng vốn 9 vay nợ nước ngoài của đơn vị kinh tế trong nước, tỷ lệ nợ xấu tối đa của một ngân hàng không được vượt quá 3% trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng đó. ● Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn là những khoản nợ không được trả đúng thời điểm cam kết trong hợp đồng. Theo Thông tư số 01/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, nợ quá hạn là các khoản nợ đã đến hạn trả tiền gốc và/hoặc lãi nhưng chưa được trả đúng hạn theo hợp đồng vay vốn.
Cụ thể, khi khoản vay đã đến hạn thanh toán mà người vay không thực hiện trả nợ đúng thời hạn, thì khoản nợ đó sẽ bị tính là nợ quá hạn. 𝑁ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 Tỷ lệ nợ quá hạn = 𝑥 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh chất lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại. Nếu tỷ lệ này quá cao chứng tỏ rủi ro tín dụng của ngân hàng đó cao do khách hàng không hoàn trả tiền đúng thời hạn, dẫn đến sự mất mát tài chính và ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh. Theo Tiêu chuẩn Basel III của Ngân hàng Thế giới (2011), tỷ lệ nợ quá hạn không nên vượt quá 5% của tổng số khoản nợ của một ngân hàng.
● Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Việc trích lập dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tài chính vô cùng thiết yếu và tùy thuộc vào từng nhóm nợ, các ngân hàng thương mại sẽ trích lập các khoản nợ với từng tiêu chí phù hợp. 𝐷ự 𝑝ℎò𝑛𝑔 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = 𝑥 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Theo Thông tư số 11/2020/TT-NHNN, quy định về tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ tăng dần như sau: Đối với nhóm 1 không phải trích lập dự phòng (tương đương với 0%), nhóm 2 sẽ phải trích lập dự phòng 5%, nhóm 3 sẽ phải trích lập dự phòng 20%, nhóm 4 sẽ phải trích lập dự phòng 50%, nhóm 5 sẽ phải trích lập dự phòng 100%. Tỷ lệ dự phòng rủi ro đảm bảo tính ổn định và bền vững của ngân hàng. Việc dự trữ phải đủ cho các khoản nợ có khả năng mất vốn giúp ngân hàng tránh được các rủi ro tín dụng và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của mình.
Hơn nữa, ngân hàng được đánh giá có năng lực năng lực tài chính và quản lý tốt thường sẽ có tỷ lệ này cao. Tùy thuộc mức độ của từng ngân hàng sẽ 10 trích lập khoản dự phòng phù hợp, nếu trích lập quá mức có thể ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Trong giai đoạn 2018 - 2022, nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức do đại dịch Covid -19 để lại và căng thẳng thương mại toàn cầu cũng ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đó có ngân hàng. Khi kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng, nhu cầu về tín dụng thường tăng cao và ngân hàng có thể tăng cường hoạt động cho vay để tận dụng cơ hội này.
Tuy nhiên, khi kinh tế chuyển sang giai đoạn suy thoái, nhu cầu về tín dụng thường giảm và số lượng khách hàng nợ xấu tăng lên. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng và gây ra những rủi ro tín dụng.