Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại; Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang; Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2015): “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh do khách không còn khả năng chi trả. Trong hoạt động của công ty rủi ro tín dụng phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóa và khách hàng mua chịu thất bại trong việc trả nợ. Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó”. Theo Điều 3, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước, quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài:“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, rủi ro tín dụng phát sinh khi một hoặc các bên trong hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện nghiệp vụ vay tiền của người này để cho người khác vay. Như vậy, rủi ro tín dụng đối với ngân hàng xuất phát từ cả hai phía là người cho vay và người đi vay. Như vậy, theo tác giả rủi ro tín dụng của NHTM là những tổn thất ngoài dự kiến cho NHTM do không thu hồi được nợ khi các khoản nợ đến hạn.
Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều phương pháp phân loại rủi ro tín dụng, việc phân loại rủi ro tín 8 dụng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phân tích. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. - Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay giải ngân, theo dõi, giám sát khoản vay).
- Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnhvực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao). Biểu hiện và nguyên nhân của rủi ro tín dụng 1. Biểu hiện của rủi ro tín dụng Một số biểu hiện của rủi ro tín dụng là: - Khách hàng trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại với ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, nguồn thu nhập của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch. - Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn nợ.
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn. - Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn. - Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách hàng không muốn trả nợ do thu nhập bị giảm sút. - Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường 9 khác chứ không phải từ tiền lương hoặc từ hoạt động kinh doanh được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện. - Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh xảy ra… 1. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng a. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng - Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo: Kiểm tra nội bộ diễn ra trước, trong và sau khi cấp tín dụng.
Kiểm tra nội bộ giúp ngân hàng phát hiện sớm những dấu hiệu RRTD nhằm hạn chế tối đa những RRTD trong hoạt động kinh doanh. Nếu công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo sẽ không phát hiện sớm nhận biết được sớm những sai sót của cán bộ quản lý tín dụng tại các cấp do lợi ích cá nhân hay trình độ yếu kém, khiến ngân hàng phải chịu những tổn thất lớn, thậm chí khó vượt qua. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức của cán bộ nhân viên hạn chế:Trình độ cán bộ yếu kém cũng có thể gây ra những sai sót mà khách hàng có thể lợi dụng để chiếm dụng vốn ngân hàng, sử dụng sai mục đích hoặc trì hoãn trả nợ. Là người làm việc trực tiếp với khách hàng, cán bộ ngân hàng cũng có thể cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hồ sơ đảm bảo tài sản.
- Thiếu sự giám sát, quản lý nợ sau khi vay: Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt động của khách hàng nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm ngặt các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng. - Sự hợp tác của các ngân hàng thương mại thiếu chặt chẽ: Các ngân hàng cần hợp tác chặt chẽ với nhau khi một khách hàng vay tiền ở nhiều ngân hàng. Nếu thiếu trao đổi thông tin, nhiều ngân hàng có thể cho cùng cho vay một khách hàng mà không được thường xuyên cập nhập thông tin hoặc phải gia tăng chi phí để có cùng một thông tin.
Nhưng khi rủi ro xảy ra, tổn thất có thể đến với bất cứ ngân hàng nào. - Không có sẵn những thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định tín dụng: Cơ sở dữ liệu nghèo nàn trong và ngoài ngân hàng về khách hàng và môi 10 trường kinh doanh của khách hàng có thể đưa ngân hàng đến những quyết định sai lầm, tín dụng được cấp cho những khách hàng có khả năng trả nợ kém, chậm phát hiện rủi ro, biện pháp xử lý rủi ro không hợp với nguyên nhân gây ra rủi ro. Nguyên nhân thuộc về chủ quan người đi vay - Sử dụng vốn sai mục đích: Các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án sử dụng vốn cụ thể với mục đích nhất định. Tuy nhiên, có những khách hàng sử dụng vốn sai mục đích không nằm trong phương án mà ngân hàng đã xét duyệt.
Vì thế không đảm bảo được việc hoàn trả nợ, gây ra tổn thất cho ngân hàng, mất uy tín của cán bộ tín dụng. - Khả năng quản lý kinh doanh kém: Nếu khách hàng chưa đủ kinh nghiệm quản lý điều hành trong lĩnh vực kinh doanh mà khách hàng tham gia sẽ là tiềm ẩn rủi ro khá lớn dẫn tới kinh doanh thua lỗ và không trả được nợ vay cho ngân hàng. - Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Nhiều khách hàng hoạt động với quy mô nhỏ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao. Độ rủi ro gia tăng do một số khách hàng ghi chép không đầy đủ, chính xác, rõ ràng sổ sách kế toán, khiến số liệu kế toán được cung cấp nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức.
Phân tích tín dụng của ngân hàng khi đó cũng thiếu thực tế và xác thực. Để yên tâm hơn khi cho vay, ngân hàng vẫn luôn coi tài sản thế chấp như chỗ dựa cơ bản để phòng chống rủi ro tín dụng. - Thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay: Đây là vấn đề liên quan đến đạo đức của người đi vay. Việc thẩm định một khách hàng cố tình lừa đảo sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với một khách hàng tìm đến ngân hàng với nhu cầu sử dụng tiền vay thật sự.
Để có thể nhận được dấu hiệu khách hàng không có thiện chí trong việc trả nợ không chỉ đòi hỏi sự nhạy bén của cán bộ tín dụng mà còn cần một quy trình tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ, đồng thời với việc tuân thủ chặt chẽ các quy trình này của cán bộ tín dụng. Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài - Môi trường kinh tế không ổn định: Đây là yếu tố chính quyết định tới định hướng kinh doanh, tới thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Sự biến động của 11 thị trường luôn khó có thể dự đoán một cách chính xác và cần được nghiên cứu kỹ càng trước khi đưa ra quyết định tín dụng. - Môi trường tự nhiên biến đổi nhanh chóng: Thiệt hại do thiên tai rất khó lường và có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng.
Ngày nay, sự biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nhanh chóng và mạnh mẽ có thể làm trầm trọng thêm hậu quả của thiên tai. - Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và chồng chéo: Hệ thống pháp luật của nhà nước đang phát triển thường được xây dựng dựa trên nhu cầu điều chỉnh của thực tế, nhưng đôi khi lại đi sau và kìm hãm sự phát triển. Sự chồng chéo và tách rời một cách thiếu khoa học của nhiều cơ quan quản lý khiến hệ thống các quy định nhiều khi mâu thuẫn và chồng chéo, gây khó khắn cho quá trình vận dụng. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.