CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRI RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân trong ngân hàng thương mại 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Ngày nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều nghiên cứu lý thuyết và các mô hình thực nghiệm liên quan đến việc quản trị rủi ro tín dụng, cũng như các phương pháp đo lường quản trị rủi ro tín dụng. Cụ thê: Về vai trò của quản trỊ rủi ro tín dụng: Nguyễn Quang Khải & Đặng Văn Cường (2022) nghiên cứu phân tích hiệu qua quan lý rủi ro trong ngân hang của các nước ASEAN và xem xét vai trò cụ thể của quản tri rủi ro trong việc nâng cao hiệu quả quan lý rủi ro của ngân hàng.
Shams và cộng sự (2020) cho thay lợi ích cua đa dang hóa doanh thu của ngân hàng và thông qua đa dạng hóa doanh thu có thể giảm rủi ro tín dụng đồng thời bảo toàn vốn khi đối mặt với suy thoái kinh tế. Về các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng: YANG & SHI (2009) đề cập tới một mô hình rủi ro tín dụng để đo xắc suất vỡ nợ tín dụng cá nhân bằng thuật toán. Mô hình có thể được thực hiện không chỉ trong việc dự đoán xác suất vỡ nợ cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng mà còn với cả các dịch vụ công cộng khác. Weissova và cộng sự (2015) đề cập tới rủi ro tín dụng và xếp hạng tín dụng, đây là một trong những công cụ hữu ích để đo lường rủi ro tín dụng.
Xếp hạng và rủi ro tín dụng được liên kết chặt chẽ với nhau. Về hệ thống cơ sở lý luận và chuẩn mực, toàn diện về quản trỊ rủi ro tín dụng cũng như các mô hình đo lường quản trị rủi ro tín dụng đã được đề cập đầy đủ ở các nghiên cứu đã nêu ở trên. Đây là cơ sở tạo tiền đề rất quan trọng dé các Ngân hàng tại Việt Nam có thé học hỏi, áp dụng phù hợp với thực tiễn, thực tế tại trong công tác quản trị rủi ro tín dụng nói chung và của khách hàng cá nhân nói riêng. Tổng quan nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về quản trị rủi ro tín dụng, cũng như tín dụng đối với khách hàng cá nhân trong hệ thống các ngân hàng thương mại và tại từng ngân hàng cụ thé.
Tat cả đều đưa ra hệ thống các lý thuyết, các đề xuất, giải pháp để cải thiện, giảm thiêu, quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, cụ thể: Về vai trò của quản trị rủi ro tín dung: Lê Thị Thanh Huyền, Cù Thị Lan Anh (2021) có đề cập đến vai trò của quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng và thực trạng quản trị rủi ro tại 2 ngân hàng lớn BIDV, VietinBank — thuộc top big 4 tại Việt Nam, qua đó tác giả rút ra một số hàm ý cho các Ngân hàng thương mại trong quản trị rủi ro tín dụng. Nguyễn Thị Mỹ Yên, Nguyễn Thị Thanh Bình(2021) có đề cập đến thực trạng quản tri rủi ro tại ngân hàng thương mại Việt Nam trong đó nêu rõ về kết quả về tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn từ 2015-2020, mức độ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng, chiến lược, chính sách định hướng trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng và một số tồn tại, hạn chế. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp dé hoàn thiện quan trị rủi ro như (i) thay đổi nhận thức về quan trị rủi ro, (ii) Các nhân tố dé hoàn thiện thực thi nội dung quản trị rủi ro tin dụng, (11) hoàn thiện các chính sách liên quan đến quản tri rủi ro tín dung. Hoàng Thị Kiều Nga (2016) đã nghiên cứu về: “Các lý luận rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng, những tác động trong cho vay đối với Khách hang cả nhân tác động lên công tác quan trị rui ro của Ngân hàng thương mại ”.
Đề tài nghiên cứu thực trạng cho vay khách hàng cá nhân tại AgriBank DakLak theo ngành nghề kinh tế tại dia bàn và đưa ra các giải pháp nhận diện & quản trỊ rủi ro tai chi nhánh. Về phương pháp đo lường rủi ro tín dụng và mô hình quản trị rủi ro: Đặng Thị Hồng Nhung (2021) nghiên cứu về các lý luận và một số nghiên cứu điển hình của nước ngoài (mô hình CAMELS); Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại BIDV, đánh giá thâm quyền phê duyệt và hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông qua hoàn thiện bộ máy tô chức, hệ thống thông tin tín dụng. Cơ bản nhìn chung các nghiên cứu, bài báo trên đây góp phần quan trọng đưa ra các lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng nói chung và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng.
Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu này, vẫn còn tồn tại một số khoảng trồng và hạn chế, đặc biệt là khi tập trung vào Ngân hàng TMCP Dai Chúng Việt Nam, cụ thé là trong giai đoạn đối mặt với tác động của dịch Covid-19 và sau khi dịch bệnh nay qua di.2 Khoảng trống nghiên cứu Do PVcomBank là ngân hàng mới được thành lập từ năm 2013 dựa trên cơ sở sát nhập giữa 2 tổ chức tin dụng là PVFC và WesternBank nên chưa có đề tài nào ở trên nghiên cứu một tổ chức có lịch sử hình thành khá đặc biệt và có những đặc thù riêng về vốn, tình hình chất lượng nợ ngay từ khi hình thành. Bên cạnh đó, cũng chưa có công trình nghiên cứu, đề tài nào đề cập toàn diện đến quản tri rủi ro tín dụng tại Ngân hang TMCP Dai Chúng Việt Nam trong giai đoạn từ 2018-2022, giai đoạn trước, trong và sau covid 19 cũng như đưa ra các đề xuất hệ thống, các giải pháp để tăng cường quản trị hiệu quả rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại PVcomBank tốt hơn nữa mà vẫn đảm bảo tăng trưởng quy mô, chất lượng tín dụng.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân trong hoạt động của NHTM 1.1 Tín dụng khách hang cá nhân tại các NHTM 1.1 Khái niệm về tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM = Về Tin dụng & tín dụng ngân hang Có nhiều khái niệm về tín dụng & tín dụng ngân hàng đã được định nghĩa theo nhiều góc nhìn khác nhau. Lê Thị Thu Thủy (2016) cho rằng: “Tín dung được phát sinh khi một bên (chủ nợ) giao cho bên kia (con nợ) sử dụng một khoản vốn nhất định, khi đến hạn trả nợ, con nợ phải trả cho chủ nợ khoản vốn đã vay kèm theo một khoản lãi suất nhất định mà hai bên đã thỏa thuận trước. Vốn ở đây có thể là tiền hoặc tài sản tính bằng tiên ”.
Lê Thị Thu Thủy (2016) cho rằng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc có thể cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dụng vào mục dich và thời gian nhất định theo những thỏa thuận cụ thể trong hop dong tín dung với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ”. Hay Nguyễn Minh Kiều (2009) thì cho rằng: “Tin dụng ngân hang là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thoi han nhất định với một khoản chỉ phí nhất định ”. Mặc dù có nhiều định nghĩa và khái niệm về Tín dụng (cấp tín dụng) và tín dụng Ngân hàng, nhưng khi tổng hợp, tín dụng Ngân hàng có thể được hiểu chung chung như một quá trình chuyên nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng, với một thời hạn xác định và kèm theo chi phí và rủi ro. = Về khách hàng cá nhân Trong trường hợp giao dịch với ngân hàng, đối tượng khách hàng cá nhân thường là những cá nhân từ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự (tức là khả năng của cá nhân đó tự thiết lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dan sự).
Trong phạm vi luận văn này và dựa trên định nghĩa tín dụng ngân hang nêu trên, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cả cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thê. = Khái niệm về tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân là một hình thức mà Ngân hàng đóng vai trò chuyên nhượng quyền sử dụng vốn cho khách hàng cá nhân, cho phép họ sử dụng và kinh doanh trong một khoảng thời gian xác định trước, nhưng cần phải hoàn trả cả gốc và lãi về ngân hàng.2 Đặc điểm hoạt động Tín dụng khách hàng cá nhân " Quy mô các món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay nhiều Trong thực tế, khách hàng cá nhân thường có hai mục đích chính khi vay tiền từ ngân hàng. Mục đích đầu tiên là vay tiêu dùng, dùng dé chi tiêu trực tiếp trong cuộc sống như mua nhà, mua đất, xây sửa nhà cửa, mua sắm đồ dùng gia đình, hay thậm chí du học. Mục đích thứ hai là vay tiền để bổ sung vốn kinh doanh cá nhân hoặc hộ gia đình, tuy nhiên, do hạn chế về năng lực tài chính, hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn.
Tuy nhiên, cả hai mục đích vay này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ phía ngân hàng, như đảm bảo tính hợp lý của nhu cầu vốn và khả năng trả nợ, cũng như tài sản đảm bảo. 10 Điều đáng chú ý là số lượng các món vay cho khách hàng cá nhân là rất đa dạng. Điều này xảy ra do đối tượng của loại hình vay này là các cá nhân trong xã hội, từ người có thu nhập thấp, trung bình đến cao. Nhu cầu tín dụng của khách hàng cá nhân cũng rất đa dạng và phong phú, bởi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng được nâng cao.
Điều này thúc day người ta vay ngân hàng dé cải thiện và nâng cao mức sống của mình. = Gây tốn kém nhiều chi phí Căn cứ vào những đặc điểm trên, việc tiếp cận và thu hút khách hàng cá nhân đòi hỏi ngân hàng phải đầu tư nhiều chi phí vào việc mở rộng mạng lưới, quảng cáo và tiếp thị. Các chỉ phí này là để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận và gặp gỡ các đối tượng khách hàng cá nhân tại từng địa bàn, khu vực, ngành nghề hoặc lĩnh vực.