lời mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1 : Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2 : Quy trình và phƣơng pháp nghiên cứu. 4 Chƣơng 3 : Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đại chúng Việt Nam (PVcomBank). Chƣơng 4 : Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đại chúng Việt Nam (PVcomBank) trong giai đoạn 2023- 2030.
5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân trong ngân hàng thƣơng mại 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Ngày nay, trên thế giới đang tồn tại nhiều nghiên cứu lý thuyết và các mô hình thực nghiệm liên quan đến việc quản trị rủi ro tín dụng, cũng nhƣ các phƣơng pháp đo lƣờng quản trị rủi ro tín dụng. Cụ thể: Về vai trò của quản trị rủi ro tín dụng: Nguyễn Quang Khải & Đặng Văn Cƣờng (2022) nghiên cứu phân tích hiệu quả quản lý rủi ro trong ngân hàng của các nƣớc ASEAN và xem xét vai trò cụ thể của quản trị rủi ro trong việc nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro của ngân hàng.
Shams và cộng sự (2020) cho thấy lợi ích của đa dạng hóa doanh thu của ngân hàng và thông qua đa dạng hóa doanh thu có thể giảm rủi ro tín dụng đồng thời bảo toàn vốn khi đối mặt với suy thoái kinh tế. Về các phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro tín dụng: YANG & SHI (2009) đề cập tới một mô hình rủi ro tín dụng để đo xắc suất vỡ nợ tín dụng cá nhân bằng thuật toán. Mô hình có thể đƣợc thực hiện không chỉ trong việc dự đoán xác suất vỡ nợ cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng mà còn với cả các dịch vụ công cộng khác. 6 Weissova và cộng sự (2015) đề cập tới rủi ro tín dụng và xếp hạng tín dụng, đây là một trong những công cụ hữu ích để đo lƣờng rủi ro tín dụng.
Xếp hạng và rủi ro tín dụng đƣợc liên kết chặt chẽ với nhau. Về hệ thống cơ sở lý luận và chuẩn mực, toàn diện về quản trị rủi ro tín dụng cũng nhƣ các mô hình đo lƣờng quản trị rủi ro tín dụng đã đƣợc đề cập đầy đủ ở các nghiên cứu đã nêu ở trên. Đây là cơ sở tạo tiền đề rất quan trọng để các Ngân hàng tại Việt Nam có thể học hỏi, áp dụng phù hợp với thực tiễn, thực tế tại trong công tác quản trị rủi ro tín dụng nói chung và của khách hàng cá nhân nói riêng. Tổng quan nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về quản trị rủi ro tín dụng, cũng nhƣ tín dụng đối với khách hàng cá nhân trong hệ thống các ngân hàng thƣơng mại và tại từng ngân hàng cụ thể.
Tất cả đều đƣa ra hệ thống các lý thuyết, các đề xuất, giải pháp để cải thiện, giảm thiểu, quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, cụ thể: Về vai trò của quản trị rủi ro tín dung: Lê Thị Thanh Huyền, Cù Thị Lan Anh (2021) có đề cập đến vai trò của quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng và thực trạng quản trị rủi ro tại 2 ngân hàng lớn BIDV, VietinBank – thuộc top big 4 tại Việt Nam, qua đó tác giả rút ra một số hàm ý cho các Ngân hàng thƣơng mại trong quản trị rủi ro tín dụng. Nguyễn Thị Mỹ Yên, Nguyễn Thị Thanh Bình(2021) có đề cập đến thực trạng quản trị rủi ro tại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong đó nêu rõ về kết quả về tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn từ 2015-2020, mức độ tăng trƣởng tín dụng của các ngân hàng, chiến lƣợc, chính sách định hƣớng trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng và một số tồn tại, hạn chế. Qua đó, tác giả đƣa ra các giải pháp để hoàn thiện quản trị rủi ro nhƣ (i) thay đổi nhận thức về quản 7 trị rủi ro, (ii) Các nhân tố để hoàn thiện thực thi nội dung quản trị rủi ro tín dụng, (iii) hoàn thiện các chính sách liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng… Hoàng Thị Kiều Nga (2016) đã nghiên cứu về: “Các lý luận rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng, những tác động trong cho vay đối với Khách hàng cá nhân tác động lên công tác quản trị rủi ro của Ngân hàng thương mại”. Đề tài nghiên cứu thực trạng cho vay khách hàng cá nhân tại AgriBank ĐăkLăk theo ngành nghề kinh tế tại địa bàn và đƣa ra các giải pháp nhận diện & quản trị rủi ro tại chi nhánh.
Về phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro tín dụng và mô hình quản trị rủi ro: Đặng Thị Hồng Nhung (2021) nghiên cứu về các lý luận và một số nghiên cứu điển hình của nƣớc ngoài (mô hình CAMELS); Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại BIDV, đánh giá thẩm quyền phê duyệt và hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đƣa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thông qua hoàn thiện bộ máy tổ chức, hệ thống thông tin tín dụng. Cơ bản nhìn chung các nghiên cứu, bài báo trên đây góp phần quan trọng đƣa ra các lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng nói chung và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng. Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu này, vẫn còn tồn tại một số khoảng trống và hạn chế, đặc biệt là khi tập trung vào Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam, cụ thể là trong giai đoạn đối mặt với tác động của dịch Covid-19 và sau khi dịch bệnh này qua đi.2 Khoảng trống nghiên cứu Do PVcomBank là ngân hàng mới đƣợc thành lập từ năm 2013 dựa trên cơ sở sát nhập giữa 2 tổ chức tín dụng là PVFC và WesternBank nên chƣa có đề tài nào ở trên nghiên cứu một tổ chức có lịch sử hình thành khá đặc biệt và có những đặc thù riêng về vốn, tình hình chất lƣợng nợ ngay từ khi hình thành.
8 Bên cạnh đó, cũng chƣa có công trình nghiên cứu, đề tài nào đề cập toàn diện đến quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam trong giai đoạn từ 2018-2022, giai đoạn trƣớc, trong và sau covid 19 cũng nhƣ đƣa ra các đề xuất hệ thống, các giải pháp để tăng cƣờng quản trị hiệu quả rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại PVcomBank tốt hơn nữa mà vẫn đảm bảo tăng trƣởng quy mô, chất lƣợng tín dụng.2 Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân trong hoạt động của NHTM 1.1 Tín dụng khách hàng cá nhân tại các NHTM 1.1 Khái niệm về tín dụng khách hàng cá nhân tại NHTM Về Tín dụng & tín dụng ngân hàng Có nhiều khái niệm về tín dụng & tín dụng ngân hàng đã đƣợc định nghĩa theo nhiều góc nhìn khác nhau. Lê Thị Thu Thủy (2016) cho rằng: “Tín dụng được phát sinh khi một bên (chủ nợ) giao cho bên kia (con nợ) sử dụng một khoản vốn nhất định, khi đến hạn trả nợ, con nợ phải trả cho chủ nợ khoản vốn đã vay kèm theo một khoản lãi suất nhất định mà hai bên đã thỏa thuận trước. Vốn ở đây có thể là tiền hoặc tài sản tính bằng tiền”. Lê Thị Thu Thủy (2016) cho rằng: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc có thể cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo những thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng tín dụng với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Hay Nguyễn Minh Kiều (2009) thì cho rằng: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Mặc dù có nhiều định nghĩa và khái niệm về Tín dụng (cấp tín dụng) và tín dụng Ngân hàng, nhƣng khi tổng hợp, tín dụng Ngân hàng có thể đƣợc hiểu chung chung nhƣ một quá trình chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ 9 ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, với một thời hạn xác định và kèm theo chi phí và rủi ro. Về khách hàng cá nhân Trong trƣờng hợp giao dịch với ngân hàng, đối tƣợng khách hàng cá nhân thƣờng là những cá nhân từ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự (tức là khả năng của cá nhân đó tự thiết lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự). Trong phạm vi luận văn này và dựa trên định nghĩa tín dụng ngân hàng nêu trên, đối tƣợng khách hàng cá nhân bao gồm cả cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thể.
Khái niệm về tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân là một hình thức mà Ngân hàng đóng vai trò chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn cho khách hàng cá nhân, cho phép họ sử dụng và kinh doanh trong một khoảng thời gian xác định trƣớc, nhƣng cần phải hoàn trả cả gốc và lãi về ngân hàng.2 Đặc điểm hoạt động Tín dụng khách hàng cá nhân Quy mô các món vay thƣờng nhỏ, nhƣng số lƣợng các món vay nhiều Trong thực tế, khách hàng cá nhân thƣờng có hai mục đích chính khi vay tiền từ ngân hàng. Mục đích đầu tiên là vay tiêu dùng, dùng để chi tiêu trực tiếp trong cuộc sống nhƣ mua nhà, mua đất, xây sửa nhà cửa, mua sắm đồ dùng gia đình, hay thậm chí du học. Mục đích thứ hai là vay tiền để bổ sung vốn kinh doanh cá nhân hoặc hộ gia đình, tuy nhiên, do hạn chế về năng lực tài chính, hoạt động kinh doanh thƣờng không có quy mô lớn. Tuy nhiên, cả hai mục đích vay này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ phía ngân hàng, nhƣ đảm bảo tính hợp lý của nhu cầu vốn và khả năng trả nợ, cũng nhƣ tài sản đảm bảo.
10 Điều đáng chú ý là số lƣợng các món vay cho khách hàng cá nhân là rất đa dạng. Điều này xảy ra do đối tƣợng của loại hình vay này là các cá nhân trong xã hội, từ ngƣời có thu nhập thấp, trung bình đến cao. Nhu cầu tín dụng của khách hàng cá nhân cũng rất đa dạng và phong phú, bởi chất lƣợng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng đƣợc nâng cao.