chương 1, tác giả giới thiệu tính cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) ở Việt Nam. Tác giả đã xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đặt ra các câu hỏi nghiên cứu, cũng như xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn cũng được tác giả phác thảo rõ ràng, tạo ra góc nhìn tổng quan về toàn bộ bài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 2.
Tổng quan về nợ xấu của các NHTM 2. Khái niệm nợ xấu Theo IMF (2004), nợ xấu có thể hiểu là các khoản nợ mà trong đó chủ khoản vay đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán gốc hoặc lãi theo đúng quy định, cụ thể là đã quá hạn 90 ngảy trở lên, hoặc các khoản vay đã được tái cơ cấu hoặc gia hạn nợ, bên cạnh đó còn có các khoản nợ dưới 90 ngày nhưng khả năng trả nợ bị nghi ngờ về tính thanh khoản của chủ khoản vay sẽ không có khả năng trả nợ đầy đủ dưới 90 ngày Mặt khác theo BCBS (Basel Committee on Banking Supervision - Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng) định nghĩa những khoản vay mà người vay không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán lãi hoặc gốc trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 90 ngày trở lên thì được coi là nợ xấu. Ngoài ra nếu thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: Ngân hàng nhận thấy chủ nợ mất khả năng thanh toán khoản vay dù bên phía Ngân hàng chưa có động thái cố gắng thu hồi nợ hoặc chủ nợ đã quá hạn trên 90 ngày kể từ ngày đã được ấn định để thanh toán khoản vay thì vẫn sẽ được xem là nợ xấu. Tại Việt Nam, căn cứ theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN vào ngày 22/04/2005 và tại điều 3 khoản 8 và 9 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ban hành vào ngày 21/01/2013 thì trong đó nợ xấu bao gồm các khoản nợ thuộc: nhóm 3 (nợ cần chú ý), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Và việc xếp hạng các nhóm nợ trên dựa vào hai mặt là định tính và định lượng, thông thường các khoản nợ sẽ được đánh giá theo hình thức định lượng tức là các nhóm nợ không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ từ ngày thứ 91 đến 180 sẽ được xếp vào nhóm 3, từ ngày thứ 181 đến 360 sẽ được xếp vào nhóm 4 và cuối cùng là trễ hạn quá 360 ngày sẽ xếp vào nhóm 5. Về mặt định tính, nếu chủ nợ bị các tổ chức tín dụng đánh 9 giá về tính thanh khoản thấp, bị nghi ngờ về khả năng tra nợ và thu hồi vốn thì khoản vay đó cũng có khả năng xếp vào nhóm nợ. Tiêu chí phân loại nợ xấu Tiêu chí phân loại nợ xấu tại quốc tế thường được dựa trên một số yếu tố chính như thời gian quá hạn thanh toán, khả năng thanh toán của người vay, và tình trạng pháp lý của khoản vay. Theo báo cáo của IMF, việc xác định và quản lý nợ xấu là một phần quan trọng trong việc duy trì sự ổn định tài chính và tăng cường khả năng chống đỡ của hệ thống ngân hàng.
Theo Basel Committee on Banking Supervision (BCBS), nợ xấu (non- performing loans - NPLs) có thể được phân loại dựa trên các yếu tố khác như khả năng thanh toán của người vay bị suy giảm nghiêm trọng hoặc khoản vay đã được cơ cấu lại nhiều lần mà vẫn không thể đảm bảo khả năng thu hồi vốn. Một số quốc gia và tổ chức tài chính còn áp dụng các tiêu chí phân loại cụ thể khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và quy định pháp lý của từng nơi. Tại Việt Nam, Nợ được NHNN Việt Nam quy định một cách cụ thể tại Thông tư 11/2021/TT-NHNN được chính thức ban hành vào ngày 30/07/2021. Theo như Thông tư quy định thì Nợ sẽ được chia thành 5 nhóm: Bảng 2.1: Phân loại các nhóm nợ tại Hệ thống Ngân hàng Việt Nam Nhóm nợ Chỉ tiêu phân loại Các khoản nợ trong hạn, và được đánh Nợ nhóm 1 giá là có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi (Nợ đủ tiêu chuẩn) đúng hạn Các khoản nợ trong tình trang quá hạn từ Nợ nhóm 2 ngày thứ 10 đến 90 ngày (Nợ cần chú ý) Các khoản nợ đã cơ cấu lại về thời gian và thời hạn trả nợ lần đầu.
10 Các khoản nợ trong tình trạng quá hạn từ ngày thứ 181 đến ngày thứ 360 Nợ nhóm 3 Các khoản nợ quá hạn dưới 30 ngày sau (Nợ dưới tiêu chuẩn) khi đã được cơ cấu lại lần đầu về thời hạn trả nợ và các khoản nợ phải được gia hạn lần thứ hai. Các khoản nợ quá hạn từ ngày thứ 181 đến ngày thứ 360 Các khoản nợ quá hạn từ ngày thứ 30 Nợ nhóm 4 đến ngày thứ 90 sau khi đã được cơ cấu (Nợ nghi ngờ) lại lần đầu về thời hạn trả nợ Các khoản nợ quá hạn đến dưới 30 ngày sau khi đã được cơ cấu lại về thời hạn trả nợ lần thứ hai. Các khoản nợ có số ngày quá hạn trên 360 ngày Các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày sau khi đã được cơ cấu lại lần thứ đầu Nợ nhóm 5 Các khoản nợ quá hạn trên 30 ngày sau (Nợ có khả năng mất vốn) khi đã được cơ cấu lại lần đầu về thời hạn trả nợ lần thứ hai Các khoản nợ đã được cơ cấu lại đến lần thứ ba. Nguồn: Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN Trong tất cả các nhóm nợ kể trên thì nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3-4-5, nợ xấu được hiểu là các khoản nợ mà trong đó việc tiến hành thu hồi gốc lãi gặp rủi ro lớn, các Tổ chức tín dụng phải tiến hành việc trích lập dự phòng theo như quy định cụ thể tại Điều 8 Thông tư 11/2021/TT-NHNN và tiến hành đưa ra các biện pháp nhằm xử lý và thu hồi nợ xấu.
11 Tóm lại, dựa trên các khái niệm đã đề cập, có thể xác định nợ xấu dựa vào hai yếu tố chính. Thứ nhất, là những khoản nợ đã quá hạn trả gốc và lãi từ 90 ngày trở lên, thể hiện sự chậm trễ đáng kể trong việc thanh toán của khách hàng. Thứ hai, là khi có nghi ngờ về khả năng thanh toán của khách hàng do các dấu hiệu bất ổn tài chính như giảm sút doanh thu, tăng chi phí hoặc thay đổi chính sách tài chính. Những chỉ tiêu cơ bản đo lường nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu được xác định bằng công thức: 𝐷ư 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Trong đó: Dư nợ xấu = Dư nợ nhóm 3 + Dư nợ nhóm 4 + Dư nợ nhóm 5 Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu quan trọng trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng, được sử dụng với nhiều mục đích cụ thể như: đánh giá mức độ, quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của hệ thống tài chính.
Nếu tỷ lệ này dưới 3%, ngân hàng được coi là quản lý tín dụng hiệu quả và tỷ lệ nợ xấu nằm trong mức an toàn. Tỷ lệ nợ quá hạn được tính bằng công thức: 𝐷ư 𝑛ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Trong đó: Dư nợ quá hạn = Dư nợ nhóm 2 + Dư nợ nhóm 3 + Dư nợ nhóm 4+ Dư nợ nhóm 5 Tỷ lệ nợ quá hạn để giám sát hoạt động của các ngân hàng và điều chỉnh các chính sách liên quan. Điều này nhằm đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của hệ thống tài chính, tỷ lệ nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng giúp ngân hàng và các bên liên quan đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng, điều chỉnh chính sách và theo dõi sức khỏe tài chính của ngân hàng. Khi tỷ lệ nợ quá hạn cao, điều này cho thấy chất lượng tín dụng kém và rủi ro cho vay cao.
Trong khóa luận này, nợ xấu được tác giả xác định dựa trên công thức: 12 (𝐷ư 𝑛ợ 𝑛ℎó𝑚 3 + 𝐷ư 𝑛ợ 𝑛ℎó𝑚 4 + 𝐷ư 𝑛ợ 𝑛ℎó𝑚 5) 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑥ấ𝑢 = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 2. Những yếu tố tác động đến nợ xấu Hiện nay, nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết đã được thực hiện để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Theo nghiên cứu của Vinh (2015), có hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến nợ xấu: yếu tố vi mô và yếu tố vĩ mô. Yếu tố vi mô liên quan đến khả năng thanh toán nợ của khách hàng, trong khi yếu tố vĩ mô bao gồm các tác động từ nền kinh tế, hệ thống pháp luật, chính sách của chính phủ và môi trường chính trị.
Yếu tố vi mô Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng được biết đến như là một chỉ số tài chính mà trong đó các tổ chức tín dụng đã sử dụng như một thước đo hoàn hảo cho mức độ rủi ro đến từ các khoản vay và đầu tư. Nói cách khác, chỉ số này cho biết được lượng tiền mà các tổ chức tín dụng đã phải dành ra để bù đắp và xử lý các khoản nợ có khả năng không thể thu hồi vốn. Theo như các cơ quan quản lý nhà nước quy định, việc trích lập dự phòng phải tuân theo đúng các tỷ lệ đã được đề ra và tính toán dựa vào các thông tin tín dụng khác như: lịch sử tín dụng, nhóm nợ hay khả năng thanh toán của khách hàng Theo các tác giả Messai, A. (2017), tỷ lệ dự phòng rủi ro có ảnh hưởng đáng kể đến nợ xấu của ngân hàng.
Cụ thể, Messai và Jouini (2013) cho rằng tỷ lệ dự phòng rủi ro cao có thể giúp ngân hàng giảm thiểu nợ xấu bằng cách tạo ra các khoản dự phòng đủ lớn để đối phó với các khoản vay không thể thu hồi. Umar và Sun (2018) cũng nhấn mạnh rằng việc duy trì một tỷ lệ dự phòng rủi ro hợp lý là cần thiết để bảo vệ ngân hàng khỏi các khoản nợ xấu và tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Tương tự, Vinh (2017) chỉ ra rằng tỷ lệ dự phòng rủi ro đóng vai trò 13 quan trọng trong việc quản lý nợ xấu, vì nó giúp ngân hàng chuẩn bị sẵn sàng cho các rủi ro tín dụng tiềm ẩn và cải thiện chất lượng tài sản của ngân hàng.