Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về nợ xấu và các nghiên cứu trước về nợ xấu của ngân hàng thương mại. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 9 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VỀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về nợ xấu 2.1 Các khái niệm về nợ xấu Thuật ngữ nợ xấu “Non–performing loan” (NPL) được sử dụng để chỉ các khoản thất thoát tài sản phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (2004), nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi khoản thay thế.
Với quan điểm của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39 được Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán quốc tế cho ra đời và được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005, khái niệm các khoản nợ bị giảm giá trị được sử dụng thay vì thuật ngữ nợ xấu. IAS 39 chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay.
10 Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được nêu cụ thể tại Quyết định số 493/2005/QĐ–NHNN ngày 22/04/2005 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng và thông tư 02/2013/TT–NHNN ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nợ xấu được định nghĩa là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn từ 91 ngày trở lên.2 Thực trạng nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu (%) 4,00 3,50 3,44 3,00 3,11 2,94 2,79 2,50 2,34 2,28 2,15 2,09 2,00 1,80 1,82 1,50 1,00 0,50 - 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Nguồn: World Bank Đồ thị 2.1: Tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng giai đoạn 2008 – 2017 Theo số liệu của World Bank, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh từ giai đoạn năm 2008 đến năm 2012, từ sau năm 2012 đến năm 2017 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ giảm dần. Cụ thể năm 2009 nợ xấu chiếm tỷ lệ 1,8% tổng dư nợ, đây là mức thấp nhất trong giai đoạn từ 11 năm 2008 đến năm 2017. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tăng dần từ năm 2009 đến năm 2012.
Đến năm 2012, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cao nhất giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2017, chiếm 3,44% tổng dư nợ. Sau năm 2012, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ giảm dần qua các năm và thấp nhất vào năm 2017 với tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,82% tổng dư nợ. Từ năm 2014 đến nay, tình hình xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại khá khả quan khi tỷ lệ nợ xấu đã được kiểm soát về dưới 3%. Đây là sự cố gắng lớn của các cơ quan nhà nước và của chính các ngân hàng.
10,00 9,00 8,00 7,00 BID 6,00 AGR 5,00 CTG VCB 4,00 SCB 3,00 MBB 2,00 1,00 0,00 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng Đồ thị 2.2: Tỷ lệ nợ xấu một số ngân hàng có tổng tài sản lớn giai đoạn 2006 – 2018 Dữ liệu thống kê của World Bank và tỷ lệ nợ xấu một số ngân hàng có tổng tài sản lớn cho thấy nợ xấu có xu hướng giảm dần giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2018. Như vậy, kết quả đạt được trong thời gian qua đối với xử lý nợ xấu là rất tích cực thể hiện ở năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng dần, năng lực quản trị điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận với thông lệ quốc tế, tính minh bạch trong hoạt động của các TCTD từng bước được 12 cải thiện, chất lượng tín dụng được nâng cao cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần quan trọng giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD, công tác thanh tra, giám sát được tăng cường đã góp phần ngăn chặn, phát hiện và xử lý kiên quyết các rủi ro và sai phạm của TCTD, thúc đẩy các TCTD triển khai nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 1058/QĐ-TTg.3 Một số giải pháp đã thực hiện để giảm nợ xấu Thành lập các Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) của NHNN, Công ty mua bán nợ Việt Nam (DATC) của Bộ Tài chính, Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng thương mại (AMC) đã đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu. Tiếp sau đó, nợ xấu chuyển biến tích cực hơn nhờ vào việc triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD và đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 ban hành theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tuy hai văn bản quy phạm pháp luật này mới vào thực tiễn trong một thời gian ngắn, nhưng đã định hướng chính sách vĩ mô, giải pháp tháo gỡ những tồn tại và tạo khuôn khổ pháp lý để xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các TCTD.
Đồng thời, việc sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017 có thêm công cụ quan trọng trong tái cơ cấu hệ thống và xử lý nợ xấu. Nhờ vào Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội và Quyết định số 1058/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã giúp tăng cường sự phối hợp giữa ngành Ngân hàng với các Bộ, ngành để triển khai đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu. Đồng thời, trao thêm nhiều quyền năng cho ngân hàng cũng như các cơ quan chức năng như công an, tòa án, chính quyền địa phương trong công tác xử lý nợ xấu. Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội đã nêu những quy định cụ thể về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng, nâng cao vai trò, năng lực của VAMC.
Bên cạnh đó, Nghị quyết hướng tới xử lý các vướng mắc, khó khăn liên quan đến hành lang pháp lý về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm các khoản nợ của tổ chức tín dụng, tạo cơ chế đồng bộ, thống nhất, 13 hiệu quả, khả thi, triệt để, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ xấu và xử lý tài sản bảo đảm các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, đảm bảo các tổ chức tín dụng tiếp tục phát huy tốt vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo và đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế. Thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14, quyền chủ nợ của VAMC, TCTD được khẳng định và bảo vệ thông qua các quy định rõ ràng về quyền xử lý tài sản; quyền ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ khi xử lý TSBĐ của khách hàng, bên bảo đảm, quan hệ của chủ thể là đối tượng đi vay và người đi vay trở về đúng bản chất của giao dịch dân sự kinh tế. Nghị quyết số 42/2017/QH14 còn tạo động lực, khuyến khích các TCTD bán nợ xấu cho VAMC theo giá trị thị trường. Đối tượng và hoạt động mua, bán nợ xấu của VAMC cũng được mở rộng hơn, VAMC được bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân bao gồm cả pháp nhân không có chức năng kinh doanh mua, bán nợ.
Hệ thống ngân hàng thương mại đã có những động thái tích cực trong công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu như: xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ, thực hiện giải pháp nâng cao tín dụng, cơ cấu lại nợ, liên tục thực hiện chương trình hỗ trợ vốn doanh nghiệp phục vụ sản xuất, kinh doanh, đôn đốc thu hồi và trích lập dự phòng, bán nợ và xử lý tài sản đảm bảo… 2.4 Một số nguyên nhân chƣa đạt kỳ vọng trong công tác giảm nợ xấu Chưa có thị trường mua bán nợ thật sự chuyên nghiệp để việc mua bán nợ xấu trở nên sôi động và thực hiện nhiều giao dịch lớn. Thực tiễn bất cập trong thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm, tiến độ xử lý vụ việc và thi hành án chậm ảnh hưởng công tác thu hồi TSBĐ. Điều 8 của Nghị quyết 42 có quy định áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến TSBĐ tại tòa án, tuy nhiên thực tế thi hành án chưa áp dụng theo hình thức rút gọn. Ngoài ra, thực tế xảy ra vướng mắc trong hướng dẫn triển khai khi VAMC thu giữ hoặc bán khoản nợ là các dự án bất động dở dang để chuyển cho chủ đầu tư mới có năng lực.