Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết 123doc 6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả phân tích Chương 5: Kết luận và Kiến nghị 123doc 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Cơ sở của hành vi cá nhân. Thái độ là những biểu đạt có tính đánh giá (tích cực hay tiêu cực) liên quan đến các vật thể, con người và các sự kiện. Khi ai đó nói: "Tôi thích công việc của mình là khi người đó đang biểu đạt thái độ của mình đối với công việc.
Những thái độ này bao gồm: 2. Thỏa mãn công việc. Thỏa mãn công việc chỉ thái độ chung của một cá nhân với công việc của người đó; một người không thỏa mản với công việc thường có những thái độ tiêu cực đối với những công việc khi một người lãnh đạo nói về các thái độ của nhân viên thường là họ có ý nói sự thỏa mản của nhân viên đối với công việc. Quy luật mâu thuẩn và giảm mâu thuẩn trong nhận thức.
Mâu thuẩn nhận thức xảy ra khi một người có hai thái độ hoặc nhiều hơn khác nhau đối với sự vật hoặc hiện tượng hoặc khi có sự không nhất quán giửa hành vi của một người với các thái độ của người đó. Lý thuyết về mâu thuẩn nhận thức cho rằng mâu thuẩn trong nhận thức là điều không thể tránh khỏi và mọi người thường tìm cách giảm thiểu mâu thuẩn và loại bỏ những nguyên nhân của nó. Quan hệ giữa thái độ và hành vi. Mối quan hệ giữa hành vi và thái độ càng thể hiện rõ khi chúng ta xem xét thái độ và hành vi cụ thể.
Thái độ càng được xác định cụ thể thì càng dễ dàng xác định một hành vi liên quan, đồng thời khi đó khả năng chỉ ra mối quan hệ giữa thái độ và hành vi càng lớn. Thông thường, thái độ và hành vi của con người thống nhất với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế thái độ và hành vi đôi khi không 123doc 8 thống nhất hoặc mâu thuẩn với nhau. Một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng rất lớn tới quan hệ thái độ - hành vi đó là những ràng buộc xã hội đối với hành vi.
Đôi khi sự thống nhất giữa thái độ và hành vi do các áp lực xã hội buộc cá nhân phải cư xử một cách nhất định. Như vậy phần lớn các nghiên cứu về quan hệ giữa thái độ và hành vi đều cho thấy chúng có quan hệ với nhau. Cụ thể hơn thái độ có ảnh hưởng đến hành vi và thường thống nhất với hành vi. Tuy vậy, thái độ và hành vi có thể mâu thuẩn với nhau vì nhiều lí do; cá nhân có thể và thường có hành vi mâu thuẩn với thái độ vào một thời gian nào đó, mặc dù có những áp lực giảm mâu thuẩn để hướng tới sự nhất quán.
Tính cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách cá nhân. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách cá nhân: - Bẩm sinh, gen duy truyền - Môi trường nuôi dưỡng - Môi trường học tập - Môi trường XH - Môi trường văn hóa 2. Các thuộc tính tính cách. - Tính hướng ngoại - Tính hòa đồng - Tính chu toàn - Tính ổn định tình cảm 123doc 9 - Tính cởi mở - Độc đoán - Chủ nghĩa thực dụng - Tự kiểm soát - Thiên hướng chấp nhận rủi ro 2.
Tính cách phù hợp với công việc. Thực tế là tính cách của các cá nhân rất khác nhau và đặc điểm, nội dung, yêu cầu của các công việc cũng vậy. Theo đó, các nhà quản lý đã có những nỗ lực để chọn những người có tính cách phù hợp với những yêu cầu của những công việc. Tính cách và hành vi của cá nhân.
Các nhà tâm lý học nghiên cứu về tính cách cho rằng hành vi của cá nhân thực sự bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những đặc điểm tính cách của bản thân. Thứ nhất, những đặc điểm tính cách sẽ quyết định cách thức hành động và ra quyết định của cá nhân trong những tình huống nhất định. Chẳng hạn, một cá nhân có tính hướng ngoại thì thường ra quyết định rất nhanh và thường không suy nghĩ một cách chính chắn trước khi đưa ra quyết định nào đó. Ngược lại, một người có tính hướng nội thường suy nghĩ rất nhiều trước khi đưa ra quyết định.
Thứ hai, tính cách của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến cách cư xử của họ với các thành viên khác khi họ làm việc trong cùng một nhóm. Chẳng hạn, cá nhân có tính hòa đồng cao thì sẽ ít có xung đột hay mâu thuẫn với các thành viên khác trong nhóm nhiều hơn. Nhận thức và các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức. Nhận thức là một quá trình qua đó cá nhân sắp xếp và lý giải những ấn tượng, cảm giác của mình để đưa ra ý nghĩa cho một tình huống cụ thể.
Nhiều nghiên cứu về nhận thức cho thấy các cá nhân khác nhau có thể nhìn nhận và hiểu một vấn đề theo nhiều cách khác nhau. Thực tế là không ai nhìn thấy được hiện thực; chúng ta chỉ diễn giải những gì chúng ta nhìn thấy và gọi đó là hiện thực. Khi một cá nhân nhìn vào một đối tượng và cố gắng diễn giải những gì mình nhìn thấy, thì sự diễn giải đó chịu ảnh hưởng nặng nề của các đặc điểm cá nhân của chủ thể nhận thức. Các đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến nhận thức bao gồm các thái độ, tính cách, động cơ, lợi ích, kinh nghiệm trong quá khứ, các kỳ vọng, trình độ chuyên môn, văn hóa,.
Các đặc điểm của đối tượng nhận thức có thể ảnh hưởng đến những gì được nhận thức. Những người sôi nổi có nhiều khả năng được chú ý trong nhóm hơn so với những người trầm lặng. Cũng như vậy đối với những người cực kỳ hấp dẫn và những người không hấp dẫn. Lý thuyết quy kết.
Lý thuyết quy kết đã được đưa ra để giải thích về cách chúng ta đánh giá một người các cách khác nhau dựa vào ý nghĩa, giá trị mà chúng ta quy cho một hành vi nhất định. Về cơ bản, lý thuyết này cho rằng khi quan sát hành vi của một cá nhân, chúng ta cố gắng xác định xem liệu hành vi đó xuất phát từ nguyên nhân bên trong hay bên ngoài và sự xác định đó còn dựa vào ba yếu tố: Tính riêng biệt, sự liên ứng và sự nhất quán. Các hành vi có nguyên nhân từ bên trong là những hành vi trong phạm vi kiểm soát của cá nhân. Các hành vi có nguyên nhân từ bên ngoài thường là kết 123doc 11 quả của những nguyên nhân bên ngoài; nghĩa là người đó được coi là bị tình huống bắt buộc đi tới hành vi.
Lối tắt để đánh giá người khác. Đánh giá về người khác là công việc muôn thuở của mọi người trong các tổ chức. Chẳng hạn, các nhà quản lý thường xuyên đánh giá kết quả làm việc của nhân viên dưới quyền, các nhân viên đánh giá liệu những nhà quản lý có thực sự công bằng không. Trên thực tế, các cá nhân thường sử dụng "những lối tắt" để đánh giá.
Khái niệm cuối cùng được đưa ra là học hỏi với lý do là hầu như toàn bộ hành vi phức tạp nhất của con người đều được học hỏi. Nếu chúng ta muối giải thích, dự đoán hay kiểm soát hành vi, chúng ta cần phải hiểu người ta học hỏi ra sao. Quá trình học hỏi. Học hỏi giúp chúng ta thích nghi và làm chủ môi trường; bằng cách thay đổi hành vi cho phù hợp với các điều kiện đang thay đổi, chúng ta trở thành những công dân có trách nhiệm.
Học hỏi được xây dựng dựa trên quy luật ảnh hưởng, quy luật cho rằng hành vi phụ thuộc vào những hệ quả của nó. Hành vi mà theo sau nó là một hệ quả không thuận lợi thường không được lập lại; hành vi mà theo sau đó là một hệ quả thuận lợi thường được lập lại. Một số các hành vi vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự nước CHXHCNVN. Về hình phạt: - Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng. - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. 123doc 13 - Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Về mặt khách quan có các dấu hiệu sau: - Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.