chương 1 cũng trình bày sự đóng góp của đề tài và kết cấu của luận văn. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp 2. Khái niệm tín dụng doanh nghiệp Tín dụng doanh nghiệp hay hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp (Phan Thị Thu Hà, 2013). Nguyên tắc vay vốn đối với khách hàng doanh nghiệp Việc sử dụng vay vốn ngắn hạn là nhu cầu tự nguyện của doanh nghiệp và là cơ hội để Ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động. Tuy nhiên, cấp tín dụng liên quan đến việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Nói chung, doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên tắc: Sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận trên hợp đồng tín dụng Về phía Ngân hàng: Trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của doanh nghiệp, đồng thời phải kiểm tra xem doanh nghiệp có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không.
Điều này rất quan trong vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay sau này. Về phía doanh nghiệp: Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho Ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng và củng cố quan hệ vay vốn giữa doanh nghiệp và ngân hàng sau này. Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng 8 Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay.
Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà Ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà Ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền. Do đó, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho Ngân hàng để Ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền.
Bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi.1: Phân biệt điểm khác nhau giữa tín dụng với KHCN và KHDN Đặc tính Tín dụng KHCN Tín dụng KHDN Mục đích Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá Mua sắm tài sản cố định, máy móc, nhân hoặc sản xuất, kinh doanh nhỏ phương tiện sản xuất, mở rộng quy vay mô kinh doanh, bổ sung nguồn vốn lẻ, cá nhân, hộ gia đình. lưu động, mua sắm hàng hóa… Nguồn trả Từ nguồn lương, nguồn thu nhập tự Từ lợi nhuận từ hoạt động kinh nợ vay kinh doanh. doanh của doanh nghiệp Thủ tục, giấy tờ, yêu cầu để thẩm Thủ tục, giấy tờ, yêu cầu để thẩm Thủ tục định khoản vay đơn giản, hoàn tất định khoản vay phức tạp hơn, tiêu cho vay trong thời gian ngắn. tốn nhiều thời gian hơn.
Mức độ rủi ro lớn (nguồn tài chính trả nợ vay thường thay đổi nhanh chóng Rủi ro tùy theo tình trạng công việc, sức Mức độ rủi ro thấp hơn (trình độ khỏe của cá nhân, trình độ quản lý, quản lý, kinh doanh tốt hơn). kinh doanh thường yếu hơn so với doanh nghiệp). Lãi suất Lãi suất vay cao (do quy mô khoản Lãi suất vay thấp hơn (quy mô vay vay nhỏ nên chi phí thẩm định, hành khoản vay lớn nên chi phí tính trên 9 Đặc tính Tín dụng KHCN Tín dụng KHDN chính, quản lý tín dụng trên mỗi đơn đơn vị thấp hơn) vị cho vay cao) Đa dạng thời hạn vay theo vòng Thời hạn Chủ yếu là vay ngắn hạn, trung quay vốn của khách hàng, theo vay hạn theo quy định của TCTD nhu cầu đầu tư dự án hoặc mua sắm tài sản cố định Nguồn: Thông tư 02/2013/TT-NHNN 2. Cơ sở lý luận về khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp 2.
Khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp Khả năng trả nợ của khách hàng là việc khách hàng có khả năng trả nợ đầy đủ với bên cho vay hay không. Hiện tại vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về khái niệm “khả năng trả nợ” mà chỉ có những dấu hiệu về việc khách hàng “không có khả năng trả nợ”, đó là: Khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản (nếu có) để hoàn trả; Khách hàng có các khoản nợ xấu có thời gian quá hạn trên 90 ngày. Trong đó, những khoản thấu chi được xem là quá hạn khi khách hàng vượt hạn mức hoặc được thông báo một hạn mức nhỏ hơn dư nợ hiện tại. Tại Việt Nam, các tổ chức tín dụng phân loại nợ thành 5 nhóm theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN.
Từ năm 2005 đến năm 2015, NHNN đã sửa đổi bổ sung bốn lần về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Văn bản cập nhật mới nhất là thông tư số 22/VBHNNHNN về ngày 04 tháng 6 năm 2014 với một sửa đổi mới nhất của phân loại nợ, được tóm tắt như sau (Nguyễn Minh Kiều, 2012): Bảng 2.2: Phân loại khả năng trả nợ của KHDN Loại khách hàng Khả năng thanh toán Phân loại nợ Có khả năng trả nợ - Không có nợ quá hạn Nhóm 1-2 10 Loại khách hàng Khả năng thanh toán Phân loại nợ - Nợ quá hạn ≤ 90 ngày - Nợ quá hạn > 90 ngày Nhóm 3-5 Không có khả năng trả nợ - Nợ gia hạn Nguồn: Thông tư 02/2013/TT-NHNN Bảng 2.2 cho thấy khả năng trả nợ của khách hàng thuộc các nhóm nợ 1 – 2; trong khi các khách hàng được phân loại nhóm nợ 3 – 5 là các khách hàng không có khả năng trả nợ. Xét trong mối quan hệ tín dụng ngân hàng, “khả năng trả nợ của khách hàng” là việc đánh giá khách hàng có thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không. Phương pháp xác định khả năng trả nợ của khách hàng thường được dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định do ngân hàng lựa chọn như đặc điểm của khách hàng như năng lực tài chính, thiện chí trả nợ của khách hàng khi chưa phát sinh nghĩa vụ nợ hoặc/và dựa trên đặc điểm của khoản nợ như lịch sử thanh toán nợ, tình trạng trả nợ thực tế của khách hàng.
Kết quả đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng luôn thay đổi trong suốt thời gian quan hệ tín dụng, nên mô hình đo lường khả năng trả nợ thường được giới hạn dự báo kết quả trong ngắn hạn (trong 1 năm) (Đoàn Thị Xuân Duyên, 2013). Khả năng trả nợ của doanh nghiệp là việc đánh giá được khách hàng có thực hiện đựơc đúng hạn nghĩa vụ trả nợ cho bên cấp tín dụng trong toàn bộ thời gian quan hệ tín dụng hoặc trong một khoảng thời gian xác định hay không (Nguyễn Thị Yến Nhi, 2016). Đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp 2. Đánh giá thông qua các chỉ số tài chính Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tài chính của 11 doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài có liên quan đến tài chính của doanh nghiệp. Riêng đối với người cho vay, mối quan tâm của họ là hướng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Qua việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới lượng tiền và các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh chóng để từ đó có thể so sánh được và biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Đồng thời họ cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp vì đó chính là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay (Lochner, 2015; Robert, 2015). Một số chỉ tiêu thường được sử dụng như Chỉ số thanh toán, Chỉ số thanh toán nhanh, Tỷ số dòng tiền, Chỉ số tiền mặt trên tài sản lưu động, Chỉ số tiền mặt trên nợ ngắn hạn, Tỷ lệ thu nhập trên chi phí cố định, Thu nhập đảm bảo nợ vay… 2. Đánh giá thông qua hệ thống xếp hạng tín nhiệm Mô hình định tính được xem là mô hình cổ điển để đánh giá khả năng trả nợ hay gọi chung là rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại để lượng hóa rủi ro tín dụng. Mô hình điểm số Z; Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng; Mô hình định mức tín nhiệm của Standard & Poor’s, Moody’s Investor Service và Fitch Ratings. Mô hình chuyên gia: Hệ thống Chuyên gia là phương pháp truyền thống được sử dụng nhiều nhất để đánh giá rủi ro tín dụng. Khi các ngân hàng thương mại nhận đơn xin vay vốn liên quan đến một dự án cụ thể, các ngân hàng có thể tổ chức một hội đồng gồm các chuyên gia để đưa ra quyết định dựa trên thông tin định tính và định lượng.
Điều này có nghĩa chuyên môn của chuyên gia và đánh giá chủ quan đóng một vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định. Hệ thống chuyên gia phổ biến nhất là hệ thống "5 Cs" do Sinkey (2007) chỉ ra, trích dẫn ở tài liệu Heffernan (2005).