CHƯƠNG 1 Trong chương này, bài nghiên cứu đã giới thiệu tổng quát về các vấn đề nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó tác giả xác định các đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đưa ra được phương pháp nghiên cứu tổng quát. Sau đó tác giả đã đưa ra bố cục kết cấu của luận văn để làm cơ sở nghiên cứu để hoàn thành các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết về nợ xấu 2.
Nợ xấu Có rất nhiều các quan điểm và định nghĩa khác nhau về nợ xấu nó tùy thuộc vào góc nhìn, hướng tiếp cận và từng nền kinh tế khác nhau trên thế giới như theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Negara ở Malaysia thì khoản vay được xem là nợ xấu khi khoản vay hoạt động không hiệu quả, người vay không đủ khả năng chi trả và vỡ nợ trong sáu tháng kể từ ngày nợ xấu đầu tiên (Amanda, 2019) hoặc các khoản nợ cho vay không thể trả được mà ngân hàng không thể thu hồi (Ernst & Young, 2004). Nợ xấu cũng có thể được định nghĩa như các khoản vay đã quá hạn trả gốc và lãi từ 90 ngày trở lên (Rose, 2009; Miskin, 2010). Tổng quan cho thấy các khái niệm về nợ xấu khác nhau và không đồng nhất ở các nền kinh tế khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về nợ xấu được phổ biến hơn: Theo nhóm chuyên gia tư vấn của Liên hợp quốc AEG (2014) nợ xấu được định nghĩa như sau:”Về cơ bản một khoản nợ sẽ được xem là nợ xấu khi đã quá kì hạn trả gốc và/hoặc lãi khoản vay vượt trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi suất chưa được trả đã vượt quá 90 ngày và được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; Ngoài ra, các khoản phải thanh toán đã phải thanh toán dưới 90 ngày nhưng có những lý do để suy xét rằng các khoản thanh toán sẽ được thực hiện đầy đủ cũng được xem là nợ xấu”.
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) nợ xấu là: “Một khoản tín dụng được coi là không có phát sinh lợi nhuận (nợ xấu) khi đã quá hạn kì hạn thanh toán gốc hoặc lãi khoản vay từ 90 ngày trở lên, khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại thời gian trả nợ, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận, khi các khoản thanh 8 toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy rằng những dấu hiệu rõ ràng về việc người vay sẽ không thể hoàn trả được đầy đủ khoản nợ (người vay phá sản)”. Định nghĩa của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra thời gian quá hạn cụ thể cho một khoản vay bị coi là nợ xấu tùy thuộc vào từng quốc gia mà chỉ cho rằng “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Dựa vào khái niệm nợ xấu của BCBS thì Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) cho rằng: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày, phù hợp với định nghĩa của Basel II về tổn thất hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Tại Việt Nam, nợ xấu được định nghĩa theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN như sau: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN.
Qua những định nghĩa trên, có thể khái quát về định nghĩa nợ xấu là các khoản nợ mà khách hàng không trả cả gốc và lãi đúng hạn từ 90 ngày trở lên hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. Phân loại nợ xấu Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định tại điều 10 của NHNN Việt Nam, nợ được chia thành 5 nhóm theo chất lượng như sau: “Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn. Các khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. Các khoản nợ không bị quá hạn và dưới 10 ngày và được thẩm định là có khả năng thu hồi đẩy đủ nợ gốc và lãi đã bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.” Tất cả các khoản tín dụng được ngân hàng chấp nhận cho vay phải có đủ tiêu chuẩn để xếp vào nhóm nợ đủ tiêu chuẩn.
Bao gồm các khoản cấp tín dụng có gốc và 9 lãi vẫn còn trong thời hạn. Đồng thời, không có bất kì khó khăn nào trong nghĩa vụ thanh toán nợ và được đánh giá có thể hoàn thành nghĩa trả nợ đầy đủ theo thỏa thuận trước đó. “Nhóm 2 - Nợ cần chú ý bao gồm: Các khoản nợ vay quá hạn đến 90 ngày, khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn” Là các khoản vay trong trạng thái có nguy cơ không thể thanh toán đầy đủ nợ vay kịp trong thời hạn cho vay, nguồn trả trả nợ của khách hàng bị giảm sút dấu hiệu này được phát hiện trong quá trình giám sát khoản vay. Tuy chưa nghiêm trọng và rơi vào nhóm nợ xấu nhưng khi các khoản vay đã chuyển từ nhóm 1 xuống nhóm 2 cho thấy năng lực tài chính của khách hàng đang ở tình trạng đang xấu đi, do vậy NH cần quan tâm và có biện pháp kịp thời để hổ trợ khách hàng.
“Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn, khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, khoản nợ chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.” Là khoản vay có khả năng sẽ chịu tổn thất một phần gốc và lãi, gốc và/hoặc lãi khoản vay đã quá hạn trên 90 ngày, hoặc giá trị tài sản đảm bảo của khoản nợ đó bị giảm đáng kể dẫn đến mất mát nếu không có biện pháp xử lý kịp thời. “Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm: Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn, khoản nợ chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.” Là khoản nợ có khả năng tổn thất cao được xem xét xác định là không thể thu hồi được gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 180 ngày. 10 “Nhóm 5 - Nợ không có khả năng thu hồi bao gồm: Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai, khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, khoản nợ chưa thu hồi được trong thời gian trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.” Các khoản nợ được cho là mất vốn khi gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trên 1 năm. Tổng hợp lại các khoản nợ xấu sẽ bao gồm các khoản nợ nằm trong nhóm 3 đến nhóm 5.2 Các lý thuyết liên quan 2.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) G. Akerlof (1970) lần đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng. Theo ông, khi trong giao dịch đối tượng có lượng thông tin ít hơn đối tác hoặc thông tin không có độ chính xác cao sẽ dẫn đến hiện tượng thông tin bất cân xứng. Điều này làm cho đối tượng có ít thông tin đưa ra quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch, đồng thời đối tượng có nhiều thông tin sẽ có những hành vi gây bất lợi cho đối tượng còn lại khi thực hiện các giao dịch.
Bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến: - Rủi ro ngược hay còn gọi là lựa chọn đối nghịch: Bất cân xứng thông tin càng lớn nguy cơ lựa chọn đối nghịch càng cao. Trên thị trường tín dụng, chọn lựa đối nghịch xảy ra khi người đi vay có rủi ro cao không trả được nợ nhưng lại tích cực đi vay nhất và có nhiều khả năng được người cho vay lựa chọn nhất. - Rủi ro đạo đức: Có sự xuất hiện những hoạt động không tích cực (thiếu đạo đức); Các hoạt động trên làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu. Khi cho vay trên thị trường tín dụng, người đi vay lại nảy sinh ý định sử dụng vốn sang mục đích khác với thỏa thuận ban đầu làm cho món vay ít có khả năng hoàn trả hơn.
Ngân hàng có thể 11 khó quan sát được sự không trung thực hay những hành vi thiếu sự đúng đắn khiến ngân hàng dễ rơi vào tình trạng cho vay các khách hàng xấu và mất đi các khách hàng tốt vì có ít thông tin về các dự án, mục đích sử dụng của khách hàng. Lý thuyết này giải thích các yếu tố nội tại của ngân hàng sẽ ảnh hưởng thế nào tới nợ xấu. Lý thuyết chu kỳ kinh doanh (Business Cycle Theory) Chu kỳ kinh doanh, là sự dao động của GDP theo trình tự của từng chu kì lần lượt là chu kỳ suy thoái, chu kỳ hồi phục và chu kỳ bùng nổ. Cũng có quan điểm coi sự phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai chuyển biến chính là suy thoái và hưng thịnh.
Biến động chu kỳ kinh tế thường được đặc trưng bởi những biến động và suy thoái chung trong một loạt các biến số kinh tế vĩ mô. Các giai đoạn hung thịnh / suy thoái riêng lẻ xảy ra với thời lượng và cường độ thay đổi theo thời gian. Thông thường, chu kỳ sẽ có năm trong khoản thời gian từ khoảng 2 đến 10 năm. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của chu kỳ kinh tế như sự thay đổi nhanh chóng và đột ngột của thị trường hoặc sự thay đổi trong tâm lý người tiêu dùng ảnh hưởng đến chi tiêu tổng thể trong nền kinh tế vĩ mô.