lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và ba chương như sau: Chƣơng 1: Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga 6 CHƢƠNG 1: RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa do có sự khác nhau về các tiêu chí dùng để phân loại.
Trong số các tiêu chuẩn phân loại thì có hai tiêu chuẩn chủ yếu được là: Quy mô vốn và số lượng lao động. Ngoài ra, việc lượng hóa các tiêu chuẩn để phân loại quy mô doanh nghiệp còn tùy thuộc vào những yếu tố sau: Tình hình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi nước; Quy định cụ thể phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội trong các giai đoạn khác nhau; Chỉ tiêu độ lớn của các tiêu thức cũng khác nhau đối với các ngành khác nhau. Tại Việt Nam, qua nghiên cứu yêu cầu thực tế và học hỏi kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, quy định mới nhất về doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật, được chia thành 3 cấp: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm. Dưới đây là bảng phân chia các cấp độ doanh nghiệp trong các ngành.
Tiêu chí để xác định ngành của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế. Trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động trên nhiều lĩnh vực thì việc xác định ngành căn cứ vào lĩnh vực có doanh thu cao nhất hoặc lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất. Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Lĩnh vực Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy Thƣơng mại, dịch vụ sản, công nghiệp, xây dựng Doanh Có số lao Tổng doanh thu Có số lao Tổng doanh thu nghiệp động tham gia của năm không động tham gia của năm không siêu nhỏ BHXH bình quá 3 tỷ đồng BHXH bình quá 10 tỷ đồng quân năm hoặc tổng nguồn quân năm hoặc tổng nguồn không quá 10 vốn không quá 3 không quá 10 vốn không quá 3 người tỷ đồng người tỷ đồng Doanh Có số lao Tổng doanh thu Có số lao Tổng doanh thu nghiệp động tham gia của năm không động tham gia của năm không nhỏ BHXH bình quá 50 tỷ đồng BHXH bình quá 100 tỷ đồng quân năm hoặc tổng nguồn quân năm hoặc tổng nguồn không quá 100 vốn không quá không quá 50 vốn không quá người 20 tỷ đồng người 50 tỷ đồng Doanh Có số lao Tổng doanh thu Có số lao Tổng doanh thu nghiệp động tham gia của năm không động tham gia của năm không vừa BHXH bình quá 200 tỷ đồng BHXH bình quá 300 tỷ đồng quân năm hoặc tổng nguồn quân năm hoặc tổng nguồn không quá 200 vốn không quá không quá 100 vốn không quá người 100 tỷ đồng người 100 tỷ đồng Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô và tiềm lực tài chính nhỏ: Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đặc thù là vốn đầu tư có giới hạn và số lượng lao động không nhiều.
Điều này cũng tạo lợi thế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa như dễ dàng ra nhập thị trường, thay đổi quy mô, sản phẩm để phù hợp với tình hình thị 8 trường, tham gia vào các thị trường, khu vực địa lý nhỏ mà doanh nghiệp lớn không thể làm được. Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế trong việc đầu tư mở rộng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất hay công nghệ. Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có loại hình doanh nghiệp và hoạt động trong các ngành nghề/lĩnh vực phong phú: Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng hoạt động trên nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau như ngành công nghiệp sản xuất chế biến, xây dựng và bất động sản, thương mại,.
Nhờ quy mô nhỏ nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tận dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu trong các địa phương, đáp ứng các thay đổi của thị trường một cách linh hoạt nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nhanh chóng, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống. Thứ ba, hạn chế trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và năng lực cạnh tranh thấp: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có chiến lược kinh doanh rõ ràng và dài hạn mà đa phần chỉ xây dựng kế hoạch kinh doanh trong ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu thay đổi liên tục của thị trường. Về khoa học kỹ thuật, do vốn hoạt động nhỏ nên doanh nghiệp nhỏ và vừa ít có sự đầu tư cho sự đổi mới về dây chuyền sản xuất hay công nghệ. Chính những hạn chế này đã khiến cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, năng lực cạnh tranh bị hạn chế.
Thứ tư, hoạt động kinh doanh phụ thuộc nhiều vào các biến động của thị trường: Do vốn ít, không có chiến lược kinh doanh dài hạn làm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có sự đa dạng hóa trong quá trình hoạt động cũng như tính ổn định khá thấp. Do đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu nhiều tác động của những thay đổi trong môi trường kinh doanh, môi trường kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên với quy mô nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có những lợi thế khi dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, thay đổi địa điểm, tăng giảm quy mô để phù hợp hơn với điều kiện thị trường. 9 Thứ năm, bộ máy gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao tuy nhiên năng lực quản trị chưa cao: Doanh nghiệp nhỏ và vừa đa phần có cơ cấu tổ chức sản xuất và bộ máy quản lý tương đối gọn nhẹ, điều này giúp giảm bớt chi phí quản lý.
Đồng thời với mô hình quản lý trực tiếp giúp các quyết định thường được đưa ra nhanh chóng, nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có hạn chế là năng lực quản trị điều hành của doanh nghiệp chưa cao do thực tế một bộ phận chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa được đào tạo bài bản qua các trường lớp chính quy các kiến thức cơ bản về quản trị kinh doanh, tài chính, luật pháp,… 1. Vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong những năm gần đây, khi Việt Nam đã tham gia hội nhập quốc tế thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn gặp phải rất nhiều thách thức, trong đó khó khăn lớn nhất là thiếu vốn. Nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu đến từ các nguồn như sau: Vốn tiết kiệm của chủ doanh nghiệp, vốn vay cá nhân thông qua các mối quan hệ người thân, bạn bè,…Do đặc thù của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là hoạt động kinh doanh với quy mô nhỏ nên chỉ cần một lượng vốn nhỏ từ tiết kiệm của chủ doanh nghiệp cộng với việc huy động từ bạn bè, người thân cũng giúp các doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động.
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng: Để bổ sung nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng từ các NHTM. Tuy nhiên, để vay được vốn ngân hàng yêu cầu thủ tục vay rất phức tạp, doanh nghiệp cần có phương án khả thi, chứng minh tình hình tài chính để đảm bảo khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm tốt. Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tiếp cận với các nguồn vốn vay bên ngoài. Các nguồn này tuy không yêu cầu nhiều điều kiện để vay, tuy nhiên lãi suất lại rất cao, thường gấp 3-4 lần lãi suất ngân hàng.
10 Do vậy mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn trầm trạng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng khẳng định vai trò đối với nền kinh tế. Theo thống kê, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 95% trong tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lượng lao động. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện ở các điểm sau: Góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động: Tuy quy mô nhỏ nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại tạo ra lượng lớn công ăn việc làm cho nền kinh tế, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội.
Với lợi thế hoạt động trong nhiều lĩnh vực của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam có khả năng thu hút được một lượng lớn từ các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong nền kinh tế và đa dạng các thành phần lao động từ lao động thủ công tới những lao động có trình độ cao, phù hợp với yêu cầu công việc. Tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu: với chính sách mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiệu cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã sản xuất một khối lượng lớn sản phẩm đa dạng phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các mặt hàng như: mây tre đan, gốm sứ, nông sản,…Nhờ lợi thế về nguồn lực có sẵn và lợi thế cạnh tranh về giá thành sức lao động nên các mặt hàng xuất khẩu của khu vực này có nhiều lợi thế phát triển mạnh mẽ.