CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Kiểm soát nội bộ Qua thời gian, được nhìn nhận qua nhiều quá trình thực hiện nghiên cứu dưới nhiều góc độ của các nhà quản lý dẫn đến xuất hiện các định nghĩa khác nhau về kiểm soát nội bộ. Cho đến nay, quan điểm được chấp nhận và áp dụng rộng rãi là định nghĩa của Committee of Sponsoring Organization. Committee Of Sponsoring Organization (COSO) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính.
COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, cụ thể là nhằm thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả. Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated famework) đã định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: (i) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; (ii) Sự tin cậy của báo cáo tài chính; (iii) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định. Các cấu phần hệ thống Kiểm soát nội bộ a) Môi trường kiểm soát: Là nền tảng ý thức, là giá trị văn hóa doanh nghiệp của ngân hàng thể hiện sự nhận thức thống nhất về tầm quan trọng trong hoạt động kiểm soát của toàn bộ cán bộ nhân viên. Môi trường kiểm soát đồng thời cũng chính là nền tảng cho bốn bộ phận cấu thành còn lại của hệ thống Kiểm soát nội bộ nhằm xây dựng những quy tắc về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, quy định nội bộ, các chế độ, phong cách điều hành….
Theo COSO cho rằng: Môi trường kiểm soát bao gồm các tiêu chuẩn, quy trình và cấu trúc của tổ chức, cung cấp nền tảng cho việc thực hiện KSNB tổ chức. Con người chính là yếu tố trung tâm, quan trọng nhất trong môi trường kiểm soát. 7 Cần xây dựng một môi trường văn hóa đạo đức cho doanh nghiệp mà trong đó ban quản lý là những người đi đầu thực hiện, thể hiện tính trung thực, giá trị đạo đức để lan tỏa xuống toàn doanh nghiệp. Việc phát triển nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng.
Có được nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, năng động sáng tạo, thích ứng linh hoạt với vị trí công việc và có sự gắn bó lâu dài cùng sự phát triển của tổ chức sẽ tạo ra một lợi thế quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên môi trường kiểm soát tốt chưa thể đảm bảo cho các quá trình kiểm soát và cả hệ thống KSNB là tốt. Song môi trường kiểm soát không thuận lợi sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống KSNB: Thứ nhất, Yêu cầu thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức truyền đạt thông tin. Đây là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thiết kế, vận hành và giám sát các kiểm soát; Tính chính trực và hành vi đạo đức là sản phẩm của chuẩn mực về hành vi và đạo đức của đơn vị cũng như việc truyền đạt và thực thi các chuẩn mực này trong thực tế.
Việc thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức gồm các nội dung như: biện pháp của Ban Lãnh đạo để loại bỏ hoặc giảm thiểu các động cơ xúi giục nhân viên tham gia vào các hành động thiếu trung thực, bất hợp pháp, hoặc phi đạo đức. Việc truyền đạt các chính sách của đơn vị về tính chính trực và các giá trị đạo đức có thể bao gồm truyền đạt tới nhân viên các chuẩn mực hành vi thông qua các chính sách của đơn vị, các quy tắc đạo đức và bằng tấm gương điển hình. Thứ hai, Sự độc lập của bộ phận kiểm tra. Sự độc lập tương đối của từng cá nhân, thành viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra kiểm soát đảm bảo không bị các lợi ích khác chi phối để đáp ứng cho mỗi nhiệm vụ cụ thể.
Thứ ba, Sự tham gia của Ban quản trị. Ban quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức về kiểm soát của đơn vị. Ban quản trị có trách nhiệm quan trọng và trách nhiệm đó được đề cập trong các quy định do Ban quản trị ban hành. Ngoài ra, Ban quản trị còn có trách nhiệm giám sát việc thiết kế các thủ tục soát xét tính hiệu quả của KSNB của đơn vị.
Thứ tư, Triết lý và phong cách điều hành của Ban Lãnh đạo. Triết lý và phong cách điều hành của Ban lãnh đạo có nhiều đặc điểm: Quan điểm và hành động của Ban 8 lãnh đạo về việc lập và trình bày báo cáo tài chính (có thể được thể hiện qua việc lựa chọn các nguyên tắc kế toán một cách thận trọng hoặc ít thận trọng khi có nhiều lựa chọn khác nhau về nguyên tắc kế toán, hoặc sự kín kẽ và thận trọng khi xây dựng các ước tính kế toán); Cách tiếp cận đối với việc quản lý và chấp nhận rủi ro kinh doanh; Quan điểm đối với việc xử lý thông tin, công việc kế toán và nhân sự. Thứ năm, Cơ cấu tổ chức. Cơ cấu tổ chức trong đơn vị phản ánh việc phân chia quyền lực, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi người trong tổ chức ấy cũng như mối quan hệ hợp tác, phối hợp, kiểm soát và chia sẻ thông tin lẫn nhau giữa những người khác nhau trong cùng một tổ chức.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý không những giúp cho sự chỉ đạo, điều hành của nhà quản lý được thực hiện thông suốt mà còn giúp cho việc kiểm soát lẫn nhau được duy trì thường xuyên và chặt chẽ hơn. Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong đơn vị sẽ tạo môi trường kiểm soát tốt và đảm bảo một hệ thống hoạt động xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định. Sự phù hợp của cơ cấu tổ chức phụ thuộc một phần vào quy mô và đặc điểm hoạt động của đơn vị. Thứ sáu, Phân công quyền hạn và trách nhiệm.
Cách thức phân công quyền hạn và trách nhiệm đối với các hoạt động; Cách thức thiết lập trình tự hệ thống báo cáo và sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp. Thứ bảy, Các chính sách và thông lệ về nhân sự. Các chính sách và thông lệ liên quan đến các hoạt động tuyển dụng, định hướng, đào tạo, đánh giá, hướng dẫn, thăng tiến nhân viên, lương, thưởng và các biện pháp khắc phục sai sót. Sự tồn tại của một môi trường kiểm soát thỏa đáng có thể là một yếu tố tích cực của đơn vị.
Tuy nhiên, một môi trường kiểm soát thỏa đáng có thể giúp giảm rủi ro do gian lận nhưng không thể ngăn chặn hoàn toàn gian lận. Ngược lại, những khiếm khuyết trong môi trường kiểm soát có thể làm giảm hiệu quả của các kiểm soát, nhất là đối với gian lận. Hiệu quả của việc thiết kế môi trường kiểm soát liên quan đến sự tham gia của Ban quản trị chịu ảnh hưởng bới các vấn đề như: (1) Sự độc lập của Ban quản trị đối với Ban lãnh đạo và khả năng đánh giá hoạt động của Ban lãnh đạo; (2) Hiểu biết của Ban quản trị về các nghiệp vụ kinh doanh của đơn vị; (3) Mức độ Ban quản trị đánh giá về tính phù hợp của báo cáo tài chính đối với khuôn khổ về lập và 9 trình bày báo cáo tài chính được áp dụng. b) Đánh giá rủi ro: là việc nhận thức và kịp thời phân tích, đánh giá mức độ tác động của biến động, thay đổi bất lợi có thể đe dọa đến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Cụ thể đối với ngân hàng là những rủi ro có thể gặp phải trong việc cân bằng tỷ lệ an toàn vốn, thanh khoản trong các kịch bản khác nhau… để xác định khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng. Trong mỗi đơn vị, dù quy mô và loại hình nào thì cũng phải đối mặt với các loại rủi ro khác nhau. Do vậy, yêu cầu đối với các ngân hàng là nhận thức được rủi ro, đánh giá rủi ro và có biện pháp kiểm soát rủi ro để hạn chế các tổn thất có thể xảy ra. Đánh giá rủi ro chính là việc nhận dạng, phân tích các rủi ro có thể tác động đến các mục tiêu, đánh giá khả năng của những rủi ro xảy ra và trên cơ sở đó xác định các biện pháp nhằm xử lý rủi ro.
Theo COSO, các nguyên tắc đánh giá rủi ro gồm: Nguyên tắc số 6, đơn vị phải thiết lập mục tiêu rõ ràng và đầy đủ để nhận diện và đánh giá rủi ro phát sinh trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. Các mục tiêu bao gồm: mục tiêu hoạt động, mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính và mục tiêu tuân thủ; Nguyên tắc số 7, đơn vị phải nhận diện rủi ro trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị, tiến hành phân tích rủi ro để xác định các loại rủi ro cần được quản trị; Nguyên tắc số 8, đơn vị cần xem xét các loại gian lận tiềm tàng khi đánh giá rủi ro không đạt được mục tiêu. Nguyên tắc số 9, đơn vị cần xác định và đánh giá những thay đổi của môi trường ảnh hưởng đến HTKSNB, bao gồm các thay đổi từ môi trường bên ngoài như tình hình kinh tế, chính trị; Các thay đổi từ môi trường bên trong của đơn vị như phương thức kinh doanh, thay đổi nhân sự quản lý…Do đó, việc nhận diện và đánh giá rủi ro là cơ sở để xây dựng các chính sách quản lý rủi ro trong ngân hàng. c) Hoạt động kiểm soát: Là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, xây dựng cơ cấu tổ chức của ngân hàng phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm phòng ngừa, phát hiện, kiểm soát, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra trong mọi cấp độ, mọi hoạt động.
Khi tiến hành kiểm soát thì các hành động kiểm soát phải đạt được những nội dung sau: (1) Phân chia trách nhiệm thích hợp: Khi phân chia không cho phép một cá nhân hay một bộ phận nào được thực hiện toàn bộ quy trình nghiệp vụ mà phải 10 phân chia cho nhiều bộ phận tham gia.