MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của nghiên cứu Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống NHTM tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát vào năm 2020 – 2021. Một trong những vấn đề cấp thiết nhất là nhu cầu cải cách toàn diện hệ thống ngân hàng. Có thể thấy hiện nay hiệu quả tài chính của vài ngân hàng ngày càng yếu kém, và có nhu cầu cấp thiết về một cuộc tái đánh giá và định hướng để mang lại sự ổn định cũng như khả năng phục hồi trước những bất ổn (Nguyen, 2023).
Những cải cách này không chỉ giải quyết những thách thức trước mắt mà còn đặt nền tảng cho sự tăng trưởng và bền vững lâu dài. Hơn nữa, dữ liệu từ Tổng cục Thống kê nhấn mạnh những khó khăn mà ngành ngân hàng gặp phải do đại dịch, chẳng hạn như tiền gửi của khách hàng tăng chậm dần, nợ xấu tăng cao, lợi nhuận các ngân hàng biến động thất thường (Thiên Lý, 2023). Những khó khăn này không riêng lẻ mà có tác động lan tỏa, có ảnh hưởng đến lợi nhuận, tăng trưởng kinh tế và sự ổn định chung của khu vực tài chính. Để đối phó với suy thoái kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã có những biện pháp chủ động, kêu gọi ngành ngân hàng hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch.
Đây vừa là trách nhiệm cao cả nhưng cũng là những thử thách, khó khăn to lớn đối với các NHTM. Những hỗ trợ như vậy có nhiều hình thức khác nhau như giảm lãi suất, kéo dài thời gian đáo hạn hay các biện pháp hỗ trợ tài chính khác để đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục và giảm thiểu tình trạng phá sản tăng đột biến của nhiều doanh nghiệp (Vietnam Credit, 2022). Với việc giảm lãi suất và giãn thời hạn các khoản vay, các NHTM sẽ phải đối mặt với tình trạng thực trạng biên lợi nhuận của mình sẽ có nguy cơ sụt giảm, kèm theo đó là tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu tăng cao làm giảm chất lượng tài sản và sự ổn định tài chính. Theo báo cáo về ngành ngân hàng của VNDIRECT (2023), trong quý 2 năm 2023, tổng lợi nhuận trước thuế của 25 ngân hàng niêm yết có quy mô lớn nhất đã giảm 3.1% so với cùng kỳ năm 2022, tốc độ tăng trưởng về tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ tăng 4.
Tỷ lệ nợ xấu tăng lên 2.9% chỉ trong vòng 6 tháng. Bên cạnh đó là những khó khăn 2 về trái phiếu và thị trường bất động sản, đè nặng lên áp lực lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam. Với những khó khăn như vậy, đặc biệt là tình trạng giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, dẫn dến thu nhập lãi của ngân hàng sẽ có nguy cơ giảm. Để đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận, các ngân hàng có xu hướng gia tăng các thu nhập từ các nguồn thu ngoài lãi.
Theo báo cáo của VCBS (2022), thu nhập từ phí thanh toán từ các ngân hàng niêm yết tăng tới 60% trong năm 2022 so với 2021, doanh thu phí bán bảo hiểm (kênh bankcassurance) tăng 45%. Theo dự báo của Guotai Junan (2022), hoạt động kinh doanh ngoài lãi của các NHTM sẽ tăng trưởng 25% trong năm 2023 so với 2022. Tuy vậy việc đa dạng hóa cũng tiềm ẩn rủi ro to lớn, vì trên thực tế đây không phải là những hoạt động cốt lõi của NHTM. Cũng theo báo cáo của VCBS (2022), thu nhập từ hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán của các Ngân hàng sụt giảm tới 61.1% trong năm 2021 do chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường chứng khoán, nhiều ngân hàng đầu tư vào trái phiếu chính phủ cũng có mức lợi nhuận sụt giảm khi lãi suất trái phiếu chính phủ tăng mạnh.
Cùng với đó là khó khăn áp lực cạnh tranh khi xu hướng chung của các ngân hàng đều tham gia mạnh hơn vào hoạt động ngoài lãi. Đứng trước tình trạng như vậy, một câu hỏi lớn được đặt ra rằng, liệu việc gia tăng đa dạng hóa thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau có làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng hay không? Do đó cần thiết có một nghiên cứu tìm hiểu một cách cụ thể về mối tương quan giữa đa dạng hóa thu nhập và khả năng sinh lời của các NHTM. Thực tế đã có nhiều nghiên cứu đi sâu phân tích về sự ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Trong đó nhiều nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của đang dạng hóa đến khả năng sinh lợi, như (Paltrinieri & cộng sự, 2021; Li & cộng sự, 2021; Ammar & Boughrara, 2019; Trần Anh Tuấn, 2022; Trần Hùng Sơn & cộng sự, 2020; Addai & cộng sự, 2022), không chỉ đối với ngân hàng mà còn cho cả nhiều tổ chức tài chính khác nhau (Zamore, 2018).
Tuy nhiên, các học giả cũng cho thấy rằng tác động của đa dạng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như khẩu vị rủi ro của ngân hàng (Li & cộng sự, 2021), cấu trúc sở 3 hữu (Alouane & cộng sự, 2022), cấu trúc tài chính (Lee & cộng sự, 2014), quy mô ngân hàng (Sharma & Anand, 2018), và nhiều yếu tố khác. Do đó, việc tìm hiểu và phân tích sâu hơn về tác động của đa dạng hóa đến khả năng sinh lời là rất cần thiết. Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã cập nhật dữ liệu đến gần đây và tìm hiểu sự ảnh hưởng của đa dạng hóa đến khả năng sinh lời của các ngân hàng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (Li & cộng sự, 2021), tuy vậy việc xem xét cụ thể về vai trò của đại dịch trong mối quan hệ giữa hai biến số này vẫn còn được bỏ ngỏ trong bối cảnh thị trường Việt Nam. Do đó vẫn tồn tại khoảng trống về mặt thực nghiệm tại đây.
Ngoài ra, việc nghiên cứu vai trò tương tác của ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước cũng cần được quan tâm. Các ngân hàng, mặc dù có mục đích chính là cho vay thương mại, nhưng vai trò của từng loại ngân hàng vẫn có thể khác nhau (Paltrinieri & cộng sự, 2021), cụ thể ở đây là ngân hàng thuộc quyền sở hữu nhà nước và ngân hàng tư nhân, và điều này có thể dẫn đến định hướng kinh doanh của mỗi ngân hàng là khác nhau, có thể ảnh hưởng đến mức độ đa dạng hóa và khẩu vị rủi ro của mỗi loại ngân hàng. Luu & cộng sự (2019) khi nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sự đa dạng hóa mặc dù làm tăng khả năng sinh lời cho các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, nhưng lại làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tư nhân. Do đó tồn tại một khoảng trống về kiến thức về mối liên hệ tương tác này.
Chính vì những lý do nêu trên, đề tài: “Ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” được thực hiện. Tổng quan các nghiên cứu 2. Nghiên cứu nước ngoài Bài viết của Paltrinieri & cộng sự (2021) đã kiểm tra thực nghiệm về ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến các ngân hàng Hồi giáo có khác với các ngân hàng thông thường, đặc biệt là ở các nước mới nổi nơi tài liệu về chủ đề này còn hạn chế. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu từ năm 2007 đến 2016, bao gồm 47 ngân hàng Hồi giáo và 154 ngân hàng thông thường từ các quốc gia OIC được chọn.
Những phát 4 hiện chính cho thấy rằng việc đa dạng hóa mang lại lợi ích thấp hơn cho các ngân hàng Hồi giáo so với các ngân hàng truyền thống. Sự chênh lệch này rõ ràng hơn khi sử dụng các thước đo dựa trên kế toán thay vì các thước đo dựa trên thị trường. Mặc dù tỷ trọng thu nhập ngoài lãi ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của cả hai loại ngân hàng, nhưng đa dạng hóa thu nhập không tác động đáng kể đến khả năng sinh lời được điều chỉnh theo rủi ro của các ngân hàng Hồi giáo. Hơn nữa, không có mối quan hệ rõ ràng nào được tìm thấy giữa đa dạng hóa thu nhập và sự ổn định của cả hai loại ngân hàng.
Nghiên cứu đề xuất một cách tiếp cận đa chiều để đa dạng hóa doanh thu, đặc biệt là đối với các ngân hàng Hồi giáo, dựa trên những tác động rõ rệt được quan sát thấy. Nhóm tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu những đặc điểm đặc trưng và hạn chế của ngân hàng Hồi giáo khi xem xét các chiến lược đa dạng hóa. Tuy nhiên, nghiên cứu đặt trọng tâm chính là các quốc gia OIC, có thể không cung cấp góc nhìn toàn diện. Ngoài ra, khung thời gian của nghiên cứu được giới hạn trong một thập kỷ (2007-2016), có thể không nắm bắt được các xu hướng hoặc tác động dài hạn hơn.
Li & cộng sự (2021) đã nghiên cứu tác động của đại dịch Covid -19 đối với mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi, lợi nhuận và rủi ro mà ngân hàng gặp phải. Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu xem các ngân hàng, bằng cách đa dạng hóa các hoạt động cho vay truyền thống sang các nguồn thu ngoài lãi, hoạt động như thế nào trong những thách thức kinh tế do đại dịch gây ra. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu kế toán theo quý của các ngân hàng Hoa Kỳ trong thời gian Covid bùng phát tại quốc gia này. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các nguồn thu ngoài lãi có mối tương quan thuận với hiệu quả hoạt động nhưng lại đối nghịch với rủi ro.
Kết quả còn cho thấy rằng trong thời kỳ đại dịch, các ngân hàng mở rộng ra ngoài các nguồn doanh thu cho vay truyền thống đã trải qua hiệu ứng đa dạng hóa có lợi. Cụ thể, các ngân hàng có mức thu nhập ngoài lãi cao hơn chứng tỏ khả năng sinh lời tăng và rủi ro giảm. Nghiên cứu này cũng khuyến nghị các ngân hàng nên cân nhắc đa dạng hóa nguồn thu của mình, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế bất ổn như đại dịch COVID-19. Sự đa dạng hóa như vậy có thể chống lại suy thoái kinh tế do giảm nhu cầu vay vốn.
Tuy nhiên, nghiên 5 cứu chỉ tìm hiểu các ngân hàng Hoa Kỳ, có thể không nắm bắt được toàn bộ động lực của bối cảnh ngân hàng toàn cầu. Ngoài ra, nghiên cứu này trái ngược với các nghiên cứu trước đây về các ngân hàng Hoa Kỳ, cho thấy các yếu tố đặc biệt liên quan đến đại dịch có thể đã ảnh hưởng đến lợi ích đa dạng hóa được quan sát thấy.