CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA RRTD TỚI KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 1. Khái quát cơ sở lý thuyết về tín dụng trong NHTM 1. Khái niệm tín dụng trong NHTM Cấp tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ thời tiền sử và có thể được coi là một trong những ngành nghề lâu đời nhất. Ngay từ khi bắt đầu xuất hiện sự trao đổi hàng hóa thì khái niệm về sự vay mượn, trả sau đã ra đời (Finlay, 2005).
Trong nền kinh tế luôn tồn tại các chủ thể dư thừa vốn và các chủ thể có nhu cầu vốn. Bên thừa vốn có thể đồng ý cho bên thiếu vốn sử dụng khoản vốn nhàn rỗi của mình trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện bên thiếu vốn sẽ hoàn trả lại khoản vốn sau khi thời gian cho vay kết thúc, kèm thêm với một khoản giá trị được gọi là lãi tiền vay. Khoản lãi này chính là chi phí mà người đi vay cần phải trả cho người cho vay. Như vậy, tín dụng có thể hiểu là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, và người sử dụng có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người sở hữu một khoản giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu sau khi thời hạn sử dụng kết thúc.
Hệ thống ngân hàng mà đặc biệt là các NHTM đóng vai trò luân chuyển dòng vốn trong nền kinh tế. Các ngân hàng sẽ huy động, tập hợp vốn từ những nơi dư thừa để cấp tín dụng cho những chủ thế có nhu cầu về vốn. Các hình thức cấp tín dụng của NHTM 1. Hoạt động cho vay Hoạt động cho vay phản ánh tính chất truyền thống của NHTM với tư cách là chủ thể trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trên thị trường để cho vay các chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn.
Trong quan hệ tín dụng giữa NHTM và khách hàng, NHTM sẽ thỏa thuận hoặc cam kết cho khách hàng được quyền sử dụng một lượng tiền nhất định trong một thời hạn nhất định, và khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho ngân hàng. Hiện nay, các sản phẩm cho vay đang ngày càng đa dạng với các kỳ hạn, mức lãi suất khác nhau, phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Đây được coi là một trong 5 những hoạt động sử dụng vốn chủ yếu của ngân hàng khi đem về thu nhập chiếm 60%-80% trên tổng thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên, đi cùng với việc đem lại thu nhập lớn, hoạt động cho vay cũng gắn liền với nhiều rủi ro, đặc biệt là RRTD.
Hoạt động bao thanh toán Việc ngân hàng ứng trước tiền hàng hóa dịch vụ cho người bán bằng cách mua lại các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả được gọi là nghiệp vụ bao thanh toán. Nghiệp vụ bảo lãnh NHTM sẽ thực hiện cam kết bồi thường cho bên bị thiệt hại do bên đối tác gây ra khi các bên tham gia hợp đồng. NHTM sẽ phát hành chứng thư bảo lãnh và gửi cho bên nhận bảo lãnh với cam kết bồi thường thay thế cho bên được bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết đối với bên nhận bảo lãnh. Nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá Ngân hàng thực hiện cung cấp tín dụng cho khách hàng thông qua hoạt động mua các công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng.
Song song với đó, nghiệp vụ tái chiết khấu được thực hiện khi NHTM mua lại các giấy tờ có giá đã được chiết khấu theo phương thức mua hẳn của khách hàng khi chưa đến thời hạn thanh toán. Cho thuê tài chính Nghiệp vụ cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng với thời gian trung và dài hạn bằng tài sản. Cơ sở lý thuyết về RRTD 1.1 Khái niệm RRTD Theo Alrashidi and Alarfaj (2020), RRTD có thể được coi là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất của các NHTM. Tuy nhiên, để định nghĩa được RRTD, trước tiên ta phải hiểu về rủi ro.
Khái niệm của rủi ro có thể được trình bày theo rất nhiều cách khác nhau và thường được nhìn nhận là tiêu cực trong cách hiểu truyền thống. Rủi ro thường được sử dụng để nói về khả năng gặp phải mất mát hoặc thương tổn (Tarantino, 2010). Ngược lại, theo quan điểm mở rộng, ta có thể nhìn nhận rủi ro theo 6 những góc nhìn khác, vượt ra ngoài sự tiêu cực thường được gắn liền với nó. Nguyễn Thị Quy (2009) định nghĩa rủi ro là “khả năng xảy ra một sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự tính”.
Về rủi ro trong kinh doanh, Đoàn Thị Hồng Vân (2013) cho rằng đó là “sự bất trắc có thể đo lường được, có thể tạo ra những tổn thất, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích cơ hội trong kinh doanh”. Tarantino (2005) cũng cho rằng không nên coi rủi ro như là một điều hoàn toàn xấu, bởi vì để có được cơ hội thì luôn có rủi ro. Đối với các ngân hàng, theo Thông tư 13/2018/TT-NHNN, rủi ro là “khả năng xảy ra tốn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của NHTM chi nhánh ngân hàng nước ngoài.” Pháp luật Việt Nam cũng định nghĩa về RRTD: “RRTD là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngan hàng nước ngoài. Gehard Schroek (2002) cho rằng RRTD là rủi ro đến từ tổn thất gây ra do sự sụt giảm chất lượng tín dụng.
Theo Caouette và các đồng tác giả (2008), RRTD xảy ra bất cứ khi nào một cá nhân mua một dịch vụ hoặc sản phẩm mà không thanh toán ngay lập tức. Koulafetis (2008), RRTD có thể được định nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất về mặt tài chính do việc mất khả năng thanh toán đến từ người có nghĩa vụ thanh toán. Như vậy, nhìn chung, RRTD của ngân hàng xuất phát từ việc mất khả năng thực hiện một phần hoặc toàn phần nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của khách hàng vay, gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguyên nhân khách quan RRTD là nguy cơ khách hàng mất khả năng trả nợ.
Mà để có đủ khả năng tài chính cho việc trả nợ, các khách hàng vay nợ từ NHTM cũng phải chịu rất nhiều ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô như chính trị - pháp luật, môi trường kinh tế, các sự kiện bất ngờ như dịch bệnh, thiên tai,. 7 Nếu nền chính trị bền vững, ổn định và pháp luật được chuẩn hóa, nhất quán, thị trường sẽ phát triển một cách tích cực, tạo cơ hội cho hoạt động kinh doanh của các khách hàng và từ đó đảm bảo khả năng tài chính của họ. Ngược lại, các doanh nghiệp và cá nhân sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn trong một môi trường chính trị bất ổn hay khi pháp luật còn nhiều bất cập, lỗ hổng. Điều này được khẳng định trong nghiên cứu của Kapri (2018): sự bất ổn về chính trị có thể ngăn chặn sự phát triển kinh tế tại các đất nước đang phát triển.
Lê Đức Việt (2022) cũng chỉ ra rằng việc chính sách pháp luật thiếu đồng bộ là nguyên nhân cho sự mất khả năng thanh toán của khách hàng vay. Môi trường kinh tế vĩ mô cũng có tác động lớn tới khả năng tài chính của khách hàng, từ đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ. Tất cả các nền kinh tế đều trải qua các giai đoạn tăng trưởng và suy thoái xen kẽ (Nguyễn Thúy Quỳnh, 2018). Mọi chủ thể kinh tế đều chịu tác động từ chu kỳ này.
Thêm vào đó, các chính sách kinh tế của Chính phủ và xu hướng kinh tế toàn cầu cũng sẽ có những ảnh hưởng nhất định lên các thị trường (Lê Đức Việt, 2022). Các chỉ số vĩ mô khác như tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp hay đặc biệt là lãi suất đều có tác động lên hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế. Các đợt thiên tai, bệnh dịch cũng là những yếu tố mà không ai có thể kiểm soát được, thế nhưng những sự kiện này lại mang ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế. Ví dụ điển hình cho vấn đề này là đại dịch COVID-19, khi đại dịch này đã khiến cho toàn cầu rơi vào một cuộc suy thoái tài chính.
Hàng ngàn lao động bị cắt giảm, tạo ra tình trạng mất việc, chuỗi cung ứng bị đứt gãy. Tại Việt Nam, trong thời kỳ đỉnh dịch 2020-2021, số lượng doanh nghiệp phải giải thể, chấm dứt tồn tại đã tăng cao do hệ lụy từ đại dịch. Tất cả những điều trên đều có thể ảnh hưởng tới thu nhập của khách hàng vay và vì thế cũng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của họ. Chính từ sự khó dự đoán của thị trường và môi trường vĩ mô mà các NHTM có thể gặp khó khăn trong các vấn đề liên qua tới tài sản bảo đảm (TSBĐ).
Thông thường, các NHTM có thể giảm thiểu RRTD bằng việc yêu cầu khách hàng vay phải có TSBĐ khi thực hiện cấp khoản vay. Tuy nhiên, do những biến động của thị trường 8 mà giá trị của tài sản này có thể thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng, hay các TSBĐ có thể có tính khả mại thấp, dẫn tới việc các NHTM không thể thu hồi toàn bộ giá trị khoản vay thông qua việc phát mại TSBĐ. Thêm vào đó, quá trình phát mại TSBĐ tốn rất nhiều thời gian và chi phí, gây khó khăn cho ngân hàng. Ngoài ra, việc sử dụng TSBĐ còn dễ gặp phải những vấn đề khác, như sự tranh chấp quyền sở hữu TSBĐ, việc có một hoặc nhiều người vay cùng sử dụng một TSBĐ cho các khoản vay khác nhau,.
Các NHTM cũng có thể gặp phải nhiều vấn đề khác đến từ khách hàng. Ngoài khả năng tài chính, thiện chí trả nợ của khách hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới RRTD. Nếu khách hàng có thiện chí trả nợ, họ sẽ tuân thủ theo hợp đồng tín dụng và trả các khoản nợ đúng hạn, vì thế RRTD sẽ được giảm. Ngược lại, những khách hàng vay không có thiện chí sẽ có xu hướng chậm trả nợ hay thâm chí không trả nợ.