CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NHTM VÀ QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1.1 Hoạt động huy động tiền gửi của NHTM 1.1 Khái niệm NHTM NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhân tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. NHTM là loại ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có hệ thống NHTM phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế- xã hội. Theo pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009: “ Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.” Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Khái niệm về hoạt động huy động tiền gửi Hoạt động huy động tiền gửi là một phần trong hoạt động huy động vốn, một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Đây là hình thức huy động vốn cổ đienẻ và mang tính đặc thù riêng có của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh khác như cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Trong bảng cân đối tài sản của NHTM, nghiệp vụ này được phản ánh bên phần tài sản Nợ.2 Khách hàng cá nhân và quyết định gửi tiền 1.1 Khách hàng cá nhân Theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước số 1160/2004/QĐ- NHNN ngày 13 tháng 9 năm 2004 về việc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm, thì KH CN mà nghiên cứu này đang xét đến có thể được định nghĩa là các khách hàng thỏa mãn những điều kiện sau: Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam là các cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là các cá nhân người cư trú.
Cá nhân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ Luật dân sự, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự thì được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. 7 Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì chỉ được thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật.2 Quyết định gửi tiền Theo lý thuyết về hành vi thì quá trình quyết định của khách hàng bao gồm một số hoặc tất cả các bước sau, phụ thuộc vào mức độ quan tâm đến mua sắm của khách hàng: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các giải pháp, chọn lựa cửa hàng, mua sắm thực sự và quá trình sau mua sắm. Gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng cũng giống như hành động mua hàng vậy.
Cũng trải qua các bước như: hận biết nhu cầu sử dụng tiền nhàn rỗi tạm thời sao cho an toàn và sinh lãi. Sau đó khách hàng có tiền nhàn rỗi sẽ tìm kiếm thông tin về các cách sử dụng nguồn tiền này của mình như mua vàng, dự trữ ngoại tệ, mua chứng khoán, đầu tư buôn bán, cho vay hay gửi tiết kiệm…Sau khi đã có đủ thông tin cần thiết, khách hàng sẽ tiến hành đánh giá các phương án đầu tư sinh lãi của món tiền của mình. Và trong số các phương án được nêu ra thì gửi tiết kiệm tại ngân hàng là một phương án an toàn, sinh lãi đáng để lựa chọn. Khi đã xác định được phương án đầu tư là gửi tiết kiệm thì khách hàng tiến hành lựa chọn ngân hàng.
Đây cũng chính là bước mà các ngân hàng chú trọng bậc nhất. Các tiêu chí đánh giá chọn lựa ngân hàng nảy ra trong đầu họ và bước cuối cùng của quyết định gửi tiền chính là đến ngân hàng mở tài khoản tiết kiệm. Trong bài nghiên cứu, quyết định gửi tiền được hiểu như là sự chấp thuận sử dụng một sản phẩm huy động vốn của ngân hàng. Theo đó, ngân hàng nhận tiền của khách hàng và gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng.
Số tiền này được xác nhận trên thẻ tiết kiệm. Khách hàng gửi tiền được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm 8 theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cam kết và có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ gốc và lãi cho khách hàng khi có nhu cầu.3 Nguyên tắc huy động tiền gửi 1.1 Tuân thủ pháp luật Các Ngân hàng Thương mại không được huy động vốn quá nhiều so với vốn tự có nhằm đảm bảo khả năng chi trả về sau. Hệ số giới hạn huy động vốn Vốn tự có H1 = x 100% Tổng nguồn vốn huy động Hệ số này được đưa ra nhằm mục đích giới hạn mức huy động vốn của ngân hàng, để tránh tình trạng ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức bảo vệ của vốn tự có, làm cho ngân hàng có thể mất khả năng chi trả.
Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990, tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại phải bé hơn hoặc bằng 20 lần vốn tự có. Điều đó có nghĩa rằng H1 ≥ 5%. Trong đó: Vốn tự có của ngân hàng gồm: Vốn đều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và Lợi nhuận không chia. Tổng nguồn vốn huy động gồm: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi có kỳ hạn, Tiền gửi tiết kiệm, Phát hành kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn, các khoản giữ hộ và đợi thanh toán, Tiền gửi của KBNN (nếu có).
Ở góc độ khác, một số quốc gia còn dùng hệ số này để bảo hộ các ngân hàng trong nước đối với thị trường tiền gửi trong giai đoạn đầu của hội nhập kinh tế quốc tế (Theo công văn số 1210/NHNN-CNH của Ngân hàng Nhà nước, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được nhận tiền gửi VND từ 9 các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo tỷ lệ trên mức vốn được cấp của chi nhánh với mức tiền gửi tối đa và theo lộ trình cụ thể/; từ ngày 01/01/2007 tỷ lệ huy động là 650% vốn được cấp, từ ngày 01/01/2008 là 800% vốn được cấp, từ ngày 01/01/2009 là 900% vốn được cấp, từ ngày 01/01/2010 là 1000% vốn được cấp, và sau ngày 01/01/2011 sẽ được đối xử quốc gia đầy đủ. Theo ngân hàng Nhà nước, cơ chế và lộ trình trên là nhằm thực hiện các cam kết về dịch vụ ngân hàng tại biểu cam kết về dịch vụ trong bộ văn kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)của Việt Nam). Bên cạnh đó, các TCTD phải áp dụng lãi suất huy động phù hợp với cơ chế quản lý về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, bởi vì lãi suất là một trong những công cụ để Ngân hàng Nhà nước kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông, bình ổn giá cả và chống lạm phát. Bên cạnh đó các NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả gốc lãi cho khách hàng vô điều kiện.
NHTM phải tham gia bảo hiểm tiển gửi theo quy định hiện hành. Bằng quy định này, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ. Cụ thể là nếu ngân hàng nơi người gởi tiền gởi tiền bị phá sản thì người gửi tiền được Cty bảo hiểm đền bù một khoản tiền nhất định (cụ thể hiện nay là 50 triệu đồng/ tổng tiền gửi của 1 khách hàng). Hơn nữa, ngân hàng phải giữ gìn bí mật số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng.
Nhưng không được che giấu các khoản tiền lớn và bất thường (thực hiện các quy định của pháp lệnh chống rửa tiền). Đồng thời các ngân hang không được cạnh tranh không lành mạnh (đưa thông tin giả, khuyến mãi bất hợp pháp…) gây tâm lý lo sợ, mất lòng tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng. Một khi niềm tin của người dân không còn, theo tâm lý đám đông, họ sẽ rút tiền hàng loạt gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.1 Thoả mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất Mục đích hoạt động của NHTM là vì lợi nhuận, do đó các NHTM phải đảm bảo được hai yêu cầu: chi phí thấp và quy mô cao của nguồn vốn huy động từ tiền gửi. Với chi phí thấp và quy mô cao, ngân hàng có được nguồn vốn rẻ và đủ lớn để tài trợ cho các dự án, thông qua câp tín dụng, đồng thời tạo ra lợi nhuận cho mình từ chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra.
Để có thể cạnh tranh được với các tổ chức trung gian tài chính khác, đòi hỏi NHTM phải áp dụng đa dạng hóa lãi suất, phương thức trả lãi, khuyến mãi để thu hút KH; đưa ra nhiều phương thức huy động để hạn chế rủi ro (ở đây là rủi ro thanh khoản sinh ra khi lấy nguồn vốn ngắn hạn cho vay dài hạn) và phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng.