chương 1. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA KHÁCH HÀNG TẠI CÁC NHTM 6 Nội dung đầu tiên của chương 2 giới thiệu tổng quan về NHTM và các hoạt động của NHTM. Tiếp theo, tác giả tập trung khái quát tổng quan về hoạt động huy động vốn tại NHTM bao gồm khái niệm, phân loại tiền gửi, đặc điểm tiền gửi và tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn. Nội dung chính của chương 2 nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng, các mô hình liên quan đến hành vi tiêu dùng và tiến trình ra quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
Trên cơ sở phân tích các lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả trình bày các nhân tố tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân tại NHTM. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương 3, tác giả sẽ tiến hành trình bày những phương pháp nghiên cứu được dùng trong luận văn. Theo đó, các phương pháp nghiên cứu trong đề tài được sử dụng bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng (hay còn được gọi là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức). Bên cạnh đó, dữ liệu nghiên cứu và việc mã hoá các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu sẽ được giới thiệu trong nội dung chương 3.
Cuối cùng, tác giả sử dụng phương pháp xử lý dữ liệu điều tra gồm: đánh giá độ tin cậy của các thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và sử dụng mô hình hồi quy nhị phân để xác định mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định gửi tiền của KHCN tại NHTM. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU_THẢO LUẬN Nội dung chương 4 được chia thành hai phần, phần thứ nhất tác giả trình bày thực trạng hoạt động vốn tại Agribank CN Tiền Giang trong giai đoạn 2014 – 2018. Phần hai, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu của mô hình theo các bước đánh giá thang đo thông qua hệ số Cronbach’s alpha; phân tích nhân tố khám phá và thực hiện hồi quy mô hình nhị phân. Cuối cùng tác giả thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đã được xây dựng.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 7 Phần đầu của chương 5 đề cập đến định hướng hoạt động của Agribank CN Tiền Giang. Thứ hai, tác giả thực hiện kết luận những kết quả nghiên cứu đã đạt được trong chương 4, để từ đó đưa ra những hàm ý chính sách tương ứng nhằm nâng cao và thu hút lượng khách hàng cá nhân đến gửi tiền tại Agribank CN Tiền Giang. Ngoài những kết quả đạt được trong đề tài, một số hạn chế của nghiên cứu được tác giả sơ lược để làm cơ sở đưa ra định hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. KẾT LUẬN CHUNG TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA KHÁCH HÀNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan chung về hoạt động tiền gửi tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm - Huy động vốn là hoạt động truyền thống và có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với các NHTM nhằm giúp cho các NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư và mang lại lợi nhuận cho các NH.
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn; Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn; Tiền gửi phát hành kỳ phiếu, trái phiếu; Các khoản tiền gửi khác. - Để có nguồn vốn lớn, đáp ứng nhu cầu vốn vay ngày càng tăng lên từ phía KH, các NHTM cần thường xuyên áp dụng nhiều hình thức và đa dạng hoá về: • Kỳ hạn huy động: Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn; • Công cụ huy động: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để HĐV của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; • Nguồn huy động: Vay trên thị trường tiền tệ, vay trong dân chúng, các tổ chức kinh tế trong nước, vay trên thị trường vốn quốc tế; • Cách thức thu hút và hấp dẫn KH gửi tiền: Tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm gửi một nơi lấy ra ở nhiều nơi, quà tặng, khuyến mãi… Thực hiện hoạt động nhận tiền gửi, NHTM sẽ quản lý được một khối lượng lớn tiền của nền kinh tế. Đây chính là nguồn vốn để NH tài trợ trở lại đối với nền kinh tế.
Đây được xem là vốn nợ của NHTM được tạo lập bằng cách huy động từ tiền gửi và 9 phát hành các giấy tờ có giá, vay của các TCTD, NHTW và các nguồn khác (Mai Văn Bạn, 2009). Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác, phát hành chứng chỉ tiền gửi (kỳ phiếu, tín phiếu…) và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận (Khoản 13, Điều 4, Luật số: 47/2010/QH12). Hầu hết các ngân hàng, đều cung cấp sản phẩm tiền gửi đa dạng và phong phú cho khách hàng, như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn (hay tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn), tiền gửi kinh doanh chứng khoán và tiền gửi chuyên dùng… 2.2 Phân loại tiền gửi của ngân hàng thương mại - Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn): là số tiền của DN hoặc cá nhân gửi vào NH với mục đích giao dịch, thanh toán, chi trả cho các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh trong kinh doanh. Người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào và NH phải có trách nhiệm đáp ứng kịp thời, đầy đủ.
Đây là nguồn vốn huy động có chi phí thấp của NHTM (Mai Văn Bạn, 2009). - Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức tín dụng với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho khách hàng (Ngân hàng nhà nước, 2018). - Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng (Ngân hàng nhà nước, 2018). Tiền gửi tiết kiệm bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Thời hạn gửi tiền cụ thể do tổ chức tín dụng xác định. • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là khoản tiền gửi tiết kiệm không thỏa thuận trước với ngân hàng về thời điểm rút tiền cụ thể. Ngân hàng sẽ thanh toán tiền lãi cho khách hàng theo định kỳ hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dư và tiền lãi 10 được tính theo số tiền gửi thực tế của khách hàng, bao gồm: Tiết kiệm không kỳ hạn bằng đồng Việt Nam; Tiết kiệm không kỳ hạn bằng ngoại tệ. • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền gửi tiết kiệm mà thời điểm rút tiền được xác định trước dựa trên 2 yếu tố: ngày gửi và kỳ hạn.
Khách hàng chỉ được rút tiền khi đến hạn thanh toán. Tiền lãi được thanh toán định kỳ hàng tháng hoặc thanh toán một lần vào thời điểm đáo hạn cùng với vốn gốc. - Tiền gửi khác: các NHTM còn thực hiện huy động các khoản tiền gửi từ các TCTD, tiền gửi của kho bạc nhà nước, tiền gửi của các đoàn thể xã hội… 2.3 Đặc điểm tiền gửi của ngân hàng thương mại Tiền gửi của NHTM cũng là một sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nên bản thân sản phẩm tiền gửi sẽ mang những đặc điểm sau: - Tính vô hình: đây là đặc điểm của dịch vụ nói chung và là điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm ngân hàng thường thực hiện theo một quy trình chứ không phải chỉ có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm dịch vụ trong hoặc sau khi sử dụng.
Các ngân hàng luôn chú trọng xây dựng và củng cố niềm tin đối với khách hàng về chất lượng dịch vụ hoàn hảo, tìm cách phát triển các đặc tính hữu hình của sản phẩm dịch vụ tài chính (Phạm Anh Thủy, 2013). - Tính không thể tách biệt: tính không thể tác biệt của sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện ở tính kết hợp, liên kết chéo, nối tiếp của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các tiện ích đi cùng như tiền gửi, thanh toán, ngân quỹ, tư vấn… (Phạm Anh Thủy, 2013). Ví dụ, khi sử dụng sản phẩm dịch vụ tiền gửi, KH có thể kết hợp sử dụng một số dịch vụ khác đi kèm do ngân hàng cung cấp, như dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ tín dụng… - Tính không ổn định và khó xác định: trong nghiên cứu của Phạm Anh Thuỷ (2013), tác giả đã đề cập đến đặc điểm này của sản phẩm tiền gửi. Theo đó, sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: quy trình nghiệp 11 vụ, trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ… Đồng thời, sự khác nhau trong cách thức thực hiện, điều kiện thực hiện, thời gian thực hiện hoặc đối tượng thực hiện… cũng làm cho chất lượng dịch vụ không ổn định.
Vì vậy, các ngân hàng cần thực hiện chuẩn hóa trong phân phối sản phẩm dịch vụ khi cung cấp cho KH. - Tính không đồng nhất: dịch vụ tài chính ngân hàng mang tính vô hình, khác với tính hữu hình của các sản phẩm mà các doanh nghiệp sản xuất ra. Chính do đặc tính vô hình này, mà sự cảm nhận và sự hài lòng của KH khi sử dụng dịch vụ tài chính của NH sẽ ở các mức độ khác nhau, ví dụ KH này có thể hài lòng với chất lượng dịch vụ tiền gửi của NH, nhưng KH khác lại cảm thấy không hài lòng khi sử dụng dịch vụ này tại chính ngân hàng đó.