Chương 1, tác giả chi tiết hóa bảy phần quan trọng. Phần đầu tiên giới thiệu về vấn đề, nơi mà tác giả nhắc đến sự phát triển tích cực của nền kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn, điều này làm gia tăng nhu cầu vay vốn từ khách hàng cá nhân. Phần thứ hai nhấn mạnh sự quan trọng của đề tài và tiềm năng của thành phố Hồ Chí Minh, một trong những trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam. Phần thứ ba xác định mục tiêu nghiên cứu chung và cụ thể.
Phần thứ tư đề cập đến các câu hỏi nghiên cứu chính. Phần thứ năm giới thiệu phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Hai phần cuối cùng thảo luận về ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và cấu trúc chung của luận văn, bao gồm năm chương chính. Tác giả sau đó sẽ đi sâu vào phần lý thuyết và mô hình nghiên cứu trong Chương 2.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Khái niệm Ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo Pháp lệnh NH năm 1990 của Việt Nam: “NHTM là một tổ chức KD tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của KH với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.” Theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009: “NHTM là NH được thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các HĐKD khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.” Theo luật của các Tổ chức tín dụng năm 2010: “NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các HĐKD khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Trong cơ cấu hoạt động NHTM, hoạt động NH là việc KD, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ bao gồm việc thu nhận tiền gửi của tổ chức cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, và phát hành chứng chỉ tiền gửi. Các giao dịch này đều tuân theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Hơn nữa, một nhiệm vụ không kém phần trọng yếu của NHTM chính là cấp tín dụng. Việc này liên quan đến sự thỏa thuận giữa ngân hàng và các tổ chức hoặc cá nhân để sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền, đều tuân theo nguyên tắc hoàn trả thông qua nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán. Đồng thời, NHTM cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, bao gồm việc cung cấp phương tiện thanh toán và thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi cho khách hàng thông qua tài khoản của họ. Dựa trên hình thức sở hữu, NHTM có thể được phân loại thành nhiều loại khác nhau.
NHTM nhà nước, trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, bao gồm cả NHTM mà nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. NHTM cổ phần hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, với nguồn vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp. NHTM liên doanh được thành lập tại Việt Nam bằng vốn góp của cả bên Việt Nam và bên nước ngoài. Chi nhánh NHTM nước ngoài được thành lập theo vốn và luật pháp của nước ngoài, không có tư cách pháp nhân và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
Còn NHTM 100% vốn nước ngoài được thành 9 lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài, bao gồm cả những ngân hàng mà có một ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Căn cứ vào sản phẩm NH cung cấp NHTM có thể được phân loại dựa vào cấu trúc khách hàng mà họ phục vụ. Đối với ngân hàng bán buôn, khách hàng chủ yếu là các công ty, xí nghiệp quy mô lớn, tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Trong khi đó, ngân hàng bán lẻ phục vụ chủ yếu các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
Một số NHTM lại vừa hoạt động trong lĩnh vực bán buôn vừa bán lẻ, đáp ứng nhu cầu của cả hai phân khúc khách hàng. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, NHTM có thể được chia thành hai loại: ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng kinh doanh tổng hợp. Ngân hàng chuyên doanh tập trung vào hoạt động kinh doanh chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể như nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu, vv. Ngân hàng đa năng kinh doanh tổng hợp hoạt động trong mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào có liên quan.
Những nghiệp vụ cốt lõi của NHTM bao gồm việc tạo lập nguồn vốn, sử dụng vốn và hoạt động trung gian. Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn hình thành nguồn vốn hoạt động của NHTM, bao gồm vốn tự có, vốn huy động, nguồn vốn đi vay, và nguồn vốn khác. Sử dụng nguồn vốn này, NHTM thực hiện các hoạt động như thiết lập dự trữ, cấp tín dụng, đầu tư tài chính, và mua sắm thiết bị kinh doanh. Đối với nghiệp vụ trung gian, NHTM cung cấp dịch vụ như ngân quỹ, ủy thác, bảo hiểm, tư vấn, giữ hộ, địa ốc, thanh toán không dùng tiền mặt, kinh doanh vàng, ngoại tệ, vv.
Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Các tổ chức tài chính quan trọng nhất là NHTM, chúng hoạt động như những nhà trung gian tài chính trong nền kinh tế thị trường, đảm nhiệm nhiệm vụ chuyển đổi tài chính từ nơi có dư đến nơi khan hiếm. Dù vậy, đồng thời, như mọi doanh nghiệp khác, các NHTM tiếp tục tham gia vào hoạt động kinh doanh với mục tiêu chính là tối đa hóa lợi nhuận mà vẫn giữ rủi ro ở mức có thể chấp nhận được. Vì vậy, bên cạnh những cơ sở lý luận như đánh giá HQKD của một tổ chức, thì khi đánh giá HQKD của NHTM cũng cần phải tính đến những đặc điểm riêng của NHTM. Cơ cấu nghĩa vụ và TS có thể chấp nhận được, mô hình tăng trưởng lợi nhuận ổn định và HQHĐ của các NHTM đều được coi là một phần của HQKD theo nghĩa rộng.
10 Các hoạt động chính của NHTM nhận tiền gửi, cho vay và đầu tư liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực bao gồm lao động, cơ sở hạ tầng và tiền. Điều này đóng vai trò là nền tảng để tìm ra mức độ hiệu quả và các biến số tác động đến mức độ thành công của các NHTM. Trong nghiên cứu của Zenios et al. Những phương pháp này xác định hiệu quả cho các NH bao gồm cả HQHĐ và trung gian tài chính.
Cách tiếp cận SX: Các NHTM cũng được coi là cung cấp DV cho KH. Các yếu tố có trạng thái vật chất (như nhân công, vật liệu, văn phòng làm việc, hẹ thống phần mềm và cơ sở hạ tầng công nghệ, v.) hoặc các tiện ích liên quan được bao gồm trong các yếu tố đầu vào được thiết lập trong phương pháp này. Bởi vì phương pháp này chỉ liên quan đến quá trình vật lý nên chi phí lãi vay không được bao gồm. Đầu ra của chiến lược này là các DV tài chính mà NH cung cấp cho KH của mình và chúng có thể được đánh giá tốt nhất bởi khối lượng và sự đa dạng của các giao dịch, khối lượng giấy tờ được xử lý hoặc phạm vi DV chuyên biệt được cung cấp trong một khung thời gian cụ thể.
Cách tiếp cận trung gian (Sealey và Lindley, 1977): Theo các lý thuyết kinh tế vĩ mô thông thường, sự khác biệt duy nhất liên quan đến HQHĐ giữa NH và doanh nghiệp là tồn tại. Các NHTM được coi là người trung gian trong quá trình chuyển tiền giữa người tiết kiệm và nhà đầu tư. Phương pháp này coi các khoản vay và các TS lớn khác là đầu ra trong khi tính chi phí hoạt động và LS là đầu vào. Tuy nhiên, cách tiếp cận này để quyết định xem tiền gửi nên được phân loại là đầu vào hay đầu ra vẫn còn nhiều tranh cãi.
Theo Elyasiani và Mehdian (1990a, 1990b) cùng với Mester (1987), TS được coi là đầu ra trong hoạt động KD tiền tệ hoặc các khoản vay tài chính, trong khi tiền gửi, vốn và lao động được xem là đầu vào. Mục tiêu chính của NH là tăng thu nhập lãi, phần lớn phụ thuộc vào số lượng tiền mà NH có thể cho vay. Do đó, hiệu quả HĐKD của các NHTM bị ảnh hưởng đáng kể bởi khả năng tạo ra tín dụng của họ. 11 Nếu các khoản vay NH được coi là một sản phẩm theo nghĩa này, thì LS cho vay sẽ là chi phí của sản phẩm.
Mặt khác, tiền gửi từ người tiêu dùng cung cấp phần lớn vốn mà các NH sử dụng để cho vay. Do vậy, trong quá trình SX của NH, tiền gửi có thể được coi là yếu tố đầu vào để SX ra “sản phẩm” là các khoản cho vay (Trương Quang Thông, 2011). Điều này giải thích cách các NH sử dụng tiền gửi làm đầu vào và cho vay làm đầu ra trong trung gian tài chính. Do đó, số lượng tín dụng mà các NH tạo ra từ mỗi khoản tiền gửi mà họ nhận được có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của chúng.
Bằng cách thêm các hoạt động NH cụ thể vào các khuôn khổ truyền thống, cách tiếp cận hiện tại vượt trội so với hai cách tiếp cận trước đó (Frexias và Rochet, 1997). Một số cách tiếp cận hiện đại, bao gồm những cách tiếp cận sau, đã xuất hiện từ nghiên cứu về việc xác định những gì xảy ra trong hoạt động hàng ngày của các NH tài chính: “tiếp cận theo TS”,” tiếp cận theo chi phí sử dụng”, “tiếp cận theo giá trị gia tăng”, “tiếp cận theo phương diện hoạt động.” (i) Tiếp cận theo TS (Sealy & Lindley, 1977) : “tập trung hoàn toàn vào vai trò trung gian tài chính của NHTM giữa người gửi tiền và người sử dụng TS cuối cùng của NH. Tiền gửi và các khoản nợ khác, cùng với nguồn lực thực tế (lao động, vốn.) được xác định là yếu tố đầu vào, trong khi các thiết lập đầu ra chỉ bao gồm các TS của NH như cho vay, cụ thể là các khoản cho vay.” (ii) Tiếp cận theo chi phí sử dụng (Hancock, 1985): “ xác định sản phẩm tài chính là đầu vào hay đầu ra dựa trên cơ sở mức độ đóng góp của vào doanh thu ròng của NH.