Chương 1: Giới thiệu đề tài: Lý do nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan: Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm, lý thuyết về hành vi, quyết định gửi tiết kiệm, lược khảo công trình nghiên cứu định hướng khung lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế quy trình nghiên cứu, xây dựng bảng câu hỏi, nghiên cứu định tính và định lượng, các tiêu chuẩn ước lượng trong thống kê kiểm định mô hình thang đo và kiểm định sự khác biệt. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Giới thiệu đơn vị nghiên cứu và phân tích một số chi tiêu hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 – 2022.
Phân tích định lượng, kiểm định mô hình thang đo và thảo luận. - Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được, đề xuất hàm ý nâng cao quyết định gửi tiết kiệm của KHCN tại “BIDV Chi nhánh Vũng Tàu - Côn Đảo”, hạn chế của nghiên cứu và hưởng nghiên cứu tương lai. 7 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 Trong chương này, tác giả trình bày lý do nghiên cứu vấn đề, đưa ra mục tiêu nghiên cứu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Trên cơ sở đó, hình thành cơ sở lý thuyết về quyết định gửi tiết kiệm của KHCN đối với NH, đồng thời xác định phạm vi và đối tượng của nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài giúp cho các nhà quản trị NH có được cơ sở để điều chỉnh các biện pháp chiến lược và chính sách thu hút khách hàng gửi tiền vào NH và sau cùng là kết cấu luận văn, trong đó giới thiệu nội dung chính của từng chương.
Nội dung của chương này là cơ sở nền tảng cho nghiên cứu ở các nội dung của những chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Tổng quan về tiền gửi tiết 2. Khái niệm về tiền gửi kiệm Tiền gửi là nền tảng chính của các khoản cho vay, nguồn gốc sâu xa của tiền gửi là lợi nhuận và sự phát triển (Rose, 2002) Theo quan điểm này, tiền gửi của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân gửi vào NH chính là nguồn vốn mà các NHTM sở hữu dùng để tái cơ cấu trong hoạt động cấp tín dụng, mở rộng quy mô hoạt động và đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật và NHNN.
Ngân hàng HDV tiền gửi là việc nhận tiền của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân dưới các hình thức như gửi tiết kiệm không kỳ hạn, gửi tiết kiệm có kỳ hạn, gửi tiết kiệm phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận (Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm, 2000). Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật (Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13 tháng 9 năm, 2004). Cụ thể các hoạt động gửi tiền tiết kiệm như sau: 2. Khách hàng cá nhân gửi tiết kiệm KHCN là các cá nhân hoặc hộ gia đình, người trực tiếp giao dịch gửi tiền với các NHTM hoặc các tổ chức tín dụng với mục đích đầu tư sinh lời tiết kiệm, tránh rủi ro với khoản tiền nhàn rỗi (Nguyễn Minh Kiều, 2012).
Tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân là số tiền để dành chưa có kế hoạch sử dụng gửi vào NH hoặc các tổ chức tín dụng được xác nhận trên sổ tiết kiệm, hưởng lãi theo quy định của tổ chức mở tài khoản tiền gửi và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Có hai loại hình gửi tiết kiệm cá nhân đó là gen để tiết kiệm và gửi tiết kiệm để thanh toán (Nguyễn Minh Kiều, 2012) Cụ thể: Tiền gửi tiết kiệm. là hình thức NHTM huy động vốn, hình thức này người gửi 9 tiết kiệm được NH lập hợp đồng thỏa thuận và giao lại cho chủ sở hữu một số tiết kiệm trong khoảng thời gian gửi, khi đến kỳ hạn thanh toán NH sẽ trả số tiền gốc tiết kiệm và tiền lãi cho khách hàng. Đồng thời chủ sở hữu số tiền gửi tiết kiệm có thể dùng để cầm cố hoặc được chiết khấu khi vay vốn tại NH.
Tiền gửi tiết kiệm để thanh toán: là các cá nhân trong xã hội có nhu cầu, được pháp luật cho phép thực hiện các thanh toán qua NH và các cá nhân mở tài khoản thanh toán tại NH để đáp ứng các nhu cầu thanh toán và sử dụng các sản phẩm dịch vụ tiện ích của NH. Hình thức gửi tiết kiệm Theo Điều 6 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm thì hình thức tiền gửi tiết kiệm được phân loại theo thời hạn gửi tiền, bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiêu chí khác do tổ chức tín dụng xác định. Các hình thức gửi tiết kiệm theo mục đích được phân loại theo thời gian hoặc theo cách gửi tiền của KHCN (Phan Thị Thu Hà, 2013).
Cụ thể: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: KHCN có nhu cầu gửi tiết kiệm vì mục đích an toàn, sinh lời và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được phân loại như sau: − Căn cứ kỳ hạn gửi tiết kiệm. Kỳ hạn gửi từ 1 tháng đến đến 36 tháng hoặc kỳ hạn dài hơn theo nhu cầu của khách hàng − Căn cứ phương thức trả lãi. Kỳ hạn gửi tiết kiệm lĩnh lãi đầu kỳ, kỳ hạn gửi tiết kiệm lĩnh cuối kỳ, kỳ hạn gửi tiết kiệm lĩnh lãi định kỳ.
− Căn cứ loại tiền gửi. Tiền gửi tiết kiệm bằng Việt Nam đồng (VNĐ), tiền gửi bằng đồng đô la Mỹ (USD). Mục tiêu của khách hàng khi chọn hình thức gửi tiết kiệm là lợi nhuận theo định kỳ có được từ số tiền gửi. Theo đó lãi suất rất quan trọng trong việc thu hút khách hàng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được các NH trả lãi suất cao hơn mức lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn. Hình thức này, khách hàng chỉ được rút tiền đúng kỳ tới hạn thỏa thuận và để khuyến khích gửi tiết kiệm, các NH cho phép khách hàng có nhu cầu được 10 rút toàn bộ số tiền đã gửi trước kỳ hạn, khi đó khách hàng chỉ được nhận lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Tiết gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Khách cá nhân có tiền nhàn rỗi gửi tiết kiệm vì an toàn, sinh lời hoặc để thanh toán, do chưa thiết lập được kế hoạch sử dụng trong tương lai. Mục tiêu của khách hàng chọn hình thức này là an toàn và sự tiện lợi.
Hình thức này KH được rút số tiền gửi bất cứ khi nào hoặc NH thực hiện giao dịch thanh toán theo yêu cầu mà không hạn chế về số lần giao dịch, chính vì vậy mà nguồn vốn này luôn biến động, khó khăn cho NH lên kế hoạch sử dụng tái cơ cấu nguồn vốn, vì thế các NH thường trả lãi suất với mức thấp, bù lại chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ưu đãi khác với chi phí thấp hơn. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Vai trò của huy động vốn tiền gửi tiết kiệm không chỉ đơn thuần là đem lại lợi ích cho các cá nhân gửi tiền, mà còn đóng vai trò quan trọng đối với NH trong việc tăng trưởng hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu nguồn vốn, góp phần bình ổn thị trường tiền tệ và thúc đẩy kinh tế phát triển (Trầm Thị Xuân Hương, 2013). Cụ thể: Đối với nền kinh tế: Huy động vốn tạo thành nguồn vốn lớn từ các khoản tiền nhàn rỗi, gửi tiết kiệm nhỏ lẻ của các đối tượng trong nền kinh tế, sử dụng vốn cho vay đầu tư, giúp đáp ứng nhu cầu của nền nền kinh tế - xã hội. Mặt khác số lượng nguồn vốn còn phản ánh lên khả năng thu nhập phát triển của dân cư.
Đồng thời thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc của nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm, NHNN có thể điều hàng hiệu quả các chính sách tiền tệ. Đối với NHTM: Huy động vốn từ tiền gửi là nền tảng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NH. Thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM thu thập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh và thực hiện các dịch vụ tài chính như cho vay, tài trợ, đầu tư, giao dịch ngoại tệ, thanh toán và các dịch vụ uỷ thác khác. Điều này tạo ra lợi nhuận cho NH và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của NH.
Vốn huy động là tài sản tiền mặt được gửi vào NH từ các chủ sở hữu, bao gồm cả cá nhân và tổ chức, mà NH tạm thời quản lý và sử dụng. Khi quy mô huy động vốn càng lớn, NHTM có khả năng thực hiện các giao dịch quy mô lớn hơn, đồng thời nâng cao uy tín và thương hiệu của mình trong mắt khách hàng. 11 Đối với khách hàng: Việc sở hữu các chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá trở thành cơ hội không chỉ để hưởng lãi mà còn để tham gia mua bán và chuyển nhượng các chứng từ này trên thị trường, tạo nên tính thanh khoản cao cho người sở hữu. Điều này cho phép khách hàng dễ dàng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt bất cứ khi nào cần thiết, thông qua việc cầm cố, chiết khấu cho NHTM hoặc bán lại trên thị trường tài chính.
Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM cung cấp điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận các tiện ích của dịch vụ NH. Khách hàng có thể dễ dàng đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của họ khi giao dịch với NHTM. Từ việc nắm giữ các tài sản tài chính đến việc tận dụng các dịch vụ và tiện ích khác của NH, KH được hỗ trợ một cách toàn diện trong việc quản lý và tăng cường giá trị tài sản của họ. Lý thuyết hành vi 2.
Thuyết hành động hợp lý Hình 2. 1: Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA (Nguồn. Martin Fishbein và Icek Ajzen, 1975) Lý thuyết hành động hợp lý được xây dựng vào những năm 1967 đã được điều chỉnh, mở rộng theo thời gian và được nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới ứng dụng.