Chương 1 trình bày bối cảnh của đề tài nghiên cứu và lý do mà đề tài được thực hiện. Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu: mục tiêu, đối tượng, phạm vi, đóng góp của nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu dự kiến Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết làm nền tảng lý luận cho đề tài. Trong đó tác giả nêu lên các khái niệm, các mô hình lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, từ đó tác giả phát triển giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài.
Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3, tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài, quy trình nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu. Trong đó, tác giả nêu lên các kỹ thuật để phân tích dữ liệu như thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy và các kiểm định. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu của tác giả. Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 tóm tắt lại nội dung nghiên cứu và kết quả của đề tài.
Trong chương này, tác giả sẽ đưa ra những hàm ý quản trị dựa trên kết quả nghiên cứu để giúp cho ngân hàng BIDV chi nhánh Bà Rịa thu hút thêm khách hàng sử dụng thẻ tín dụng. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU DỰ KIẾN 2. Lý thuyết về thẻ tín dụng 2. Khái niệm thẻ tín dụng ―Thẻ tín dụng là một hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Đó là công cụ điện tử dưới dạng một chiếc thẻ nhựa, sử dụng tiện lợi, dễ dàng và nhanh chóng, giúp mọi người thanh toán, đẩy nhanh giao dịch và còn có thể được xem là một nguồn vốn ngắn hạn (Higgins & Mason, 2004). Theo định nghĩa trên trang chủ của BIDV (2023): ―Thẻ tín dụng là loại thẻ được cấp bởi các đơn vị tài chính hoặc tổ chức tín dụng, cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch với hạn mức tín dụng nhất định”. Xét về bản chất, thẻ tín dụng đại diện cho một cơ chế thanh toán tạo điều kiện thuận lợi cho cả giao dịch kinh doanh thương mại và tiêu dùng, bao gồm mua hàng và ứng trước tiền mặt. Thẻ tín dụng thường hoạt động thay thế cho tiền mặt hoặc séc và thường cung cấp hạn mức tín dụng quay vòng không bảo đảm (không tài sản thế chấp).
Người vay được yêu cầu thanh toán ít nhất một phần số dư chưa thanh toán của thẻ trong mỗi chu kỳ thanh toán, tùy thuộc vào các điều khoản được quy định trong thỏa thuận của chủ thẻ. Khi khoản nợ giảm đi, khoản tín dụng khả dụng sẽ tăng lên đối với các tài khoản ở trạng thái tốt (FDIC, 2007). Phân loại thẻ tín dụng Có nhiều tiêu chí có thể dựa vào để phân loại thẻ tín dụng. Các tiêu chí phổ biến nhất là dựa trên: hạng thẻ, chủ thể sử dụng, và phạm vi sử dụng.
Phân loại theo hạng thẻ ―Các tổ chức tín dụng hiện nay đều phân hạng các thẻ tín dụng phát hành cho khách hàng. Các tên gọi cho từng hạng thẻ theo mỗi ngân hàng là khác nhau, chẳng hạn như ngân hàng BIDV phân hạng thẻ như sau: Hạng chuẩn, Hạng vàng, Hạng bạch kim, tương tự cho Vietinbank, Vietcombank. Hoặc ngân hàng Tiên Phong (TPbank) phân hạng thẻ bao gồm: Hạng chuẩn, Hạng vàng, Hạng bạch kim, và 8 hạng Signature. Các thẻ tín dụng được xếp hạng dựa trên hạn mức tín dụng được cấp cho chủ thẻ và điều kiện để mở thẻ.
Chẳng hạn như thẻ tín dụng hạng chuẩn của BIDV có hạn mức tín dụng từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, và mức thu nhập tối thiểu để mở thẻ là 5 triệu đồng / tháng. Phân loại theo chủ thể sử dụng Thẻ tín dụng doanh nghiệp ―Thẻ tín dụng doanh nghiệp là loại thẻ được cung cấp cho các công ty, tổ chức. Nguồn tiền được dùng để thanh toán tín dụng thẻ là nguồn tiền của chính tổ chức.‖ Thẻ tín dụng cá nhân Thẻ tín dụng cá nhân là loại thẻ được phát hành cho các cá nhân cho mục đích tiêu dùng và việc chi tiêu, thanh toán sẽ do cá nhân thực hiện. Phân loại theo phạm vi sử dụng Thẻ tín dụng nội địa Thẻ tín dụng nội địa là loại thẻ được khách hàng sử dụng cho các giao dịch trong nước.
Thẻ này sẽ không thể sử dụng khi chủ thẻ mang đi nước ngoài. Thẻ tín dụng quốc tế ―Thẻ tín dụng quốc tế là loại thẻ khách hàng được sử dụng cho các giao dịch ở tất cả quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, thẻ này sẽ có mức phí thường niên cao hơn và lãi suất cũng cao hơn tương đối so với thẻ tín dụng nội địa. Vai trò của thẻ tín dụng Thẻ tín dụng có một số lợi ích để khách hàng cá nhân sử dụng.
Thuận tiện ―Thẻ tín dụng có thể là một cách thuận tiện để mua hàng mà không cần mang theo tiền mặt. Điều này đặc biệt đúng đối với các giao dịch mua lớn hoặc giao dịch 9 trực tuyến, trong đó thẻ tín dụng thường là hình thức thanh toán duy nhất được chấp nhận. Thẻ tín dụng có thẻ thanh toán tại nhiều đơn vị mua hàng và không giới hạn trong nước và quốc tế. Ngoài ra, nhiều thẻ tín dụng đi kèm với các tính năng như thanh toán không tiếp xúc hoặc tích hợp ví di động, khiến công cụ này trở nên thuận tiện hơn khi sử dụng trong thế giới ngày càng ưa thích kỹ thuật số ngày nay.
Xây dựng lịch sử tín dụng ―Một trong những lợi ích quan trọng nhất của thẻ tín dụng là khả năng xây dựng lịch sử tín dụng tích cực. Khi các cá nhân sử dụng thẻ tín dụng một cách có trách nhiệm - bằng cách thanh toán đúng hạn - họ có thể thiết lập một hồ sơ theo dõi về việc sử dụng tín dụng có trách nhiệm. Đổi lại, điều này có thể giúp họ có được các khoản vay, thẻ tín dụng hoặc các sản phẩm tài chính khác trong tương lai. Mặt khác, việc thanh toán chậm trễ hoặc mang số dư cao trên thẻ tín dụng có thể có tác động tiêu cực đến điểm tín dụng, khiến việc vay tín dụng trở nên khó khăn hơn trong tương lai.
Chương trình thưởng: ―Nhiều thẻ tín dụng cung cấp các chương trình phần thưởng có thể mang lại lợi ích đáng kể cho những cá nhân sử dụng chúng một cách có trách nhiệm. Phần thưởng có thể có nhiều hình thức, bao gồm tiền hoàn lại, điểm hoặc dặm ba và có thể kiếm được khi mua hàng bằng thẻ. Những phần thưởng này có thể tăng thêm khoản tiết kiệm đáng kể theo thời gian, đặc biệt đối với những cá nhân sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng ngày như đi siêu thị, mua sắm thời trang. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là không phải tất cả các chương trình phần thưởng đều được tạo ra như nhau và các cá nhân nên đánh giá cẩn thận chi phí và lợi ích của từng chương trình trước khi đăng ký.‖ Thẻ tín dụng cung cấp thêm lợi ích cho các chủ thẻ.
Một số giao dịch giảm giá, hoàn lại tiền và điểm thưởng được cung cấp cho các khoản thanh toán khi khách hàng dùng thẻ tín dụng. Một số thẻ tín dụng cũng cung cấp nhiều đặc quyền như truy cập phòng chờ miễn phí tại các sân bay trong nước và quốc tế, truy cập 10 miễn phí vào ứng dụng, truy cập vào các khóa học trực tuyến và cả tặng quà vào các ngày lễ lớn, sinh nhật. Nguồn vốn ngắn hạn Thẻ tín dụng cũng có thể đóng vai trò là nguồn quỹ khẩn cấp trong trường hợp có chi phí bất ngờ. Đây có thể là một mạng lưới an toàn có giá trị cho những cá nhân không có nhiều tiền tiết kiệm hoặc tiếp cận với các hình thức tín dụng khác.
Hầu hết thẻ tín dụng tại các ngân hàng đều có tính năng trả góp với mức chi phí không lãi, giúp người sử dụng có thể tiếp cận khoản vốn mua sắm khi chưa có đầy đủ số dư trong tài khoản. Khác với các hình thức vay món, thẻ tín dụng có thể tận dụng được vốn vay từ ngân hàng tối đa 45 ngày miễn lãi, cũng như chỉ tính lãi khoản vay trên dư nợ đã sử dụng từ hạn mức thẻ được ngân hàng cấp nếu khách hàng không thanh toán dư nợ đã lên sao kê kỳ gần nhất. Tóm lại, thẻ tín dụng có thể là một công cụ tài chính quan trọng cho các cá nhân, mang lại sự thuận tiện, khả năng xây dựng tín dụng, phần thưởng và nguồn vốn ngắn hạn. Tuy nhiên, điều quan trọng là sử dụng thẻ tín dụng một cách có trách nhiệm và hiểu chi phí cũng như lợi ích của mỗi thẻ trước khi đăng ký.
Các cá nhân cũng nên cẩn thận để không mang số dư cao hoặc chậm trễ các khoản thanh toán, vì điều này có thể dẫn đến lãi suất cao, phí và tác động tiêu cực đến điểm tín dụng. Lý thuyết về ý định hành vi 2. Khái niệm ý định hành vi ―Ý định hành vi là khả năng người tiêu dùng sẽ sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó (Venkatesh, et al. Với ý định hành vi cao hơn, người tiêu dùng sẽ có khả năng sử dụng sản phẩm dịch vụ cao hơn.‖ ―Trong thuyết hành động hợp lý (TRA) và thuyết hành vi hoạch định (TPB), Ajzen (1985) và Fishbein (1975) đã định nghĩa ý định là sự nỗ lực mà người ta sẵn sàng bỉ ra để đạt được một mục tiêu.
Warshaw và Davis (1985) định nghĩa ý định 11 hành vi là mức độ mà một người đã xây dựng các kế hoạch có ý thức để thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi cụ thể trong tương lai.‖ ―Theo Solomon và Panda (2004), ý định hành vi của người tiêu dùng có thể được định nghĩa là phản ứng của người tiêu dùng đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể và nó có thể được gây ra bởi kết quả của thái độ mà người tiêu dùng có đối với sản phẩm và dịch vụ cụ thể.‖ Ý định hành vi được định nghĩa bởi Netemeyer và Burton (1990) là mong muốn của người tiêu dùng hành xử theo một số cách nhất định để sở hữu, xử lý và sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ.