Chương I: Co sở lý thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu "Chương 2: Tông quan về thị trường mạng viễn thông di động tại thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2016-2019 " Chương 3: Thiết kế nghiên cứu "Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu " Chương Š: Giải pháp và kiến nghị 13 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE TAISAN THUONG HIEU VA Y DINH CHUYEN DOI MANG DI DONG - MO HINH NGHIEN CUU LY THUYET 1. TONG QUAN VE THUONG HIEU 1. Khái niệm về thương hiệu Thương hiệu là một khái niệm của người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ của sản phẩm. Thương hiệu gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và chỉ được ủy quyền cho nhà đại diện thương mại chính thức.
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) đã đưa ra định nghĩa rất pho biến: “Thương hiệu (branđ) là một cái tên, một thuật ngữ, một ký hiệu, một biểu tượng hoặc một thiết kế, hoặc sự kết hợp của tất cả các yếu tô vừa kể, nhằm xác định hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bản hoặc một nhóm người bán, và nhằm phân biệt chúng với những sản phẩm cạnh tranh ”. Theo Keller định nghĩa: “7hương hiệu là một tập hợp những liên tưởng trong tâm trí người tiêu dùng, làm tăng giá trị nhận thức cúa một sản phẩm hoặc dich vu”. Stephen King cua tập đoàn truyền thông WPP từng phát biểu: “Sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy, thương hiệu là những gì khách hàng mua. Sản phẩm có thê bị bắt chước bởi các đối thú cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty.
Sản phẩm có thẻ nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hau”. Chính vì vậy, khái niệm thương hiệu da dan dan thay thé cho khái niệm sản phẩm trong các nghiên cứu cũng như trong hoạch định các chương trình 14 marketing của doanh nghiệp. Công ty cần nỗ lực xây dựng quảng bá và phát triển được các thương hiệu mạnh cho thị trường mục tiêu thì mới có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển trên thị trường. Chức năng của thương hiệu - Chức năng nhận biết và phân biệt Đây là chức năng cơ bản nhất của thương hiệu.
Khả năng nhận biết của thương hiệu là yếu tố quan trọng không chỉ cho người tiêu dùng mà còn cho cả công ty trong quản trị và điều hành hoạt động của doanh nghiệp. Thông qua thương hiệu, khách hàng có thể dễ dàng phân biệt và nhận biết sản phẩm của công ty này với công ty khác. Tập hợp các dấu hiệu của thương hiệu (tên hiệu, biểu trưng, biểu tượng, khẩu hiệu hoặc kiểu dáng đặc biệt của hàng hóa và bao bì.) chính là căn cứ đề nhận biết và phân biệt và đây cũng là cơ sở đề được công nhận dưới góc độ pháp lý. - Chức năng thông tin và chi dan Thông qua những hình ảnh, ngôn ngữ hoặc các dấu hiệu khác cũng như khâu hiệu của thương hiệu, khách hàng có thê nhận biết được giá trị sử dụng của sản phẩm, những công dụng đích thực mà sản phẩm đó mang lại cho khách hàng.
-~ Chức năng tạo sự cảm nhận và tin cậy Thương hiệu còn có chức năng tạo sự cảm nhận. Cảm nhận là một an tượng nào đó về một sản phẩm trong tâm trí khách hàng. Sự cảm nhận của khách hàng được hình thành từ các yếu tố của thương hiệu như màu sắc, tên gọi, biểu tượng, biểu trưng, âm thanh, khẩu hiệu.và cả sự trải nghiệm của họ. - Chức năng kinh tế Thương hiệu được coi là tài sản vô hình và rất có giá trị của công ty.
Mặc dù giá trị này rất khó xác định, nhưng nhờ những lợi thế mà thương hiệu 15 nỗi tiếng mang lại, công ty sẽ bán được nhiều sản phẩm hơn, thậm chí với giá cao hon, dé thâm nhập thị trường hơn. Đề xây dựng và phát triển một thương hiệu, công ty phải tốn rất nhiều khoản đầu tư và chi phi khác nhau. Những chi phí đó tạo nên giá trị kinh tế cho thương hiệu. Bên cạnh đó, sự nồi tiếng của thương hiệu sẽ làm cho giá của thương hiệu đó tăng lên gấp bội, và đó chính là chức năng kinh tế của thương hiệu.
Vai trò của thương hiệu -_ Với khách hàng Thương hiệu giúp khách hàng phân biệt nhanh chóng sản phẩm cần mua trong nhiều sản phẩm cùng loại khác trên thị trường. Thông qua thương hiệu, khách hàng có thể nhận dạng dễ dàng sản phẩm của các công ty, nguồn gốc xuất xứ của nó. Thực chất thương hiệu như một lời giới thiệu, một thông điệp và dấu hiệu quan trọng để khách hàng căn cứ vào đó đưa ra lựa chọn cuối cùng khi mua hàng. Thương hiệu góp phần tạo ra một giá trị cá nhân cho khách hàng khi sử dụng sản phẩm.
Thực tế, một thương hiệu nỗi tiếng sẽ mang đến cho khách hàng cảm giác sang trọng hơn, nôi bật hơn, có đăng cấp và được tôn vinh khi tiêu dùng sản phẩm mang thương hiệu đó. Điều này chỉ có được khi thương hiệu đã được định vị rõ ràng và đã được khách hàng biết đến, tin tưởng. Thương hiệu tạo một tâm lý yên tâm về chất lượng, giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng. Khi khách hàng lựa chọn một thương hiệu, họ đã tin tưởng vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và công ty sản xuất.
Trong thực tế có rất nhiều sản phẩm lựa chọn mà chất lượng của chúng về cơ bản không thua kém hoặc thậm chí hoàn toàn ngang bằng với sản phẩm tương tự mang thương hiệu khác, nhưng sự gia tăng giá trị mà sản phẩm mang lại (chế độ bảo hành, dịch vụ đi kèm, sự ân cần và chăm sóc khách hàng) và những thông l6 tin về thương hiệu sẽ luôn tạo cho khách hàng một tâm lý tín tưởng, dẫn dắt họ đi đến quyết định tiêu dùng sản phẩm. - Voi cong ty Thương hiệu mang lại lợi ích kinh tế cho công ty. Một thương hiệu khi đã được chấp nhận, nó sẽ mang lại cho công ty những lợi ích kinh tế dễ nhận thấy. Đó là khả năng tiếp cận thị trường một cách dễ dàng hơn.
Sản phẩm mới của một thương hiệu đã nôi tiếng sẽ dễ dàng được khách hàng chấp nhận hơn. Một sản phẩm mang thương hiệu nỗi tiếng có thể bán được với giá cao hơn so với các sản phẩm cùng loại. Điều đó có được là nhờ lòng tin của khách hàng đối với thương hiệu. Một thương hiệu mạnh sẽ giúp bán được nhiều sản phẩm hơn.
Khi thương hiệu được khách hàng chấp nhận và ưa chuộng, họ sẽ trung thành với thương hiệu đó, sẽ mua lặp lại và giới thiệu sản phâm cho những người khác. Thương hiệu giúp thu hút đầu tư. Thương hiệu nỗi tiếng không chỉ tạo ra những lợi thế nhất định cho công ty trong quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, mà còn tạo điều kiện và như là một sự đảm bảo thu hút đầu tư, gia tăng mối quan hệ với các nhà đầu tư. Khi đã có được thương hiệu nỗi tiếng, các nhà đầu tư cũng sẽ tin tưởng hơn khi đầu tư vào công ty và sẵn sàng hợp tác kinh doanh, cung cấp nguyên liệu cho công ty.
Như vậy sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi cho công ty trong kinh doanh, góp phần giảm giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của sản phâm. Thương hiệu là tài sản vô hình và rất có giá của công ty. Thực tế đã chứng minh, giá của thương hiệu khi chuyển nhượng đã cao hơn rất nhiều so với tông tài sản hữu hình mà công ty đang sở hữu. Giá trị còn lại đó chính là tài sản thương hiệu.
Trong một số trường hợp, tài sản thương hiệu lớn hơn gấp nhiều lần so với tài sản hữu hình của công ty. -_ Với nhân viên 17 Đây là mối quan hệ nội bộ. Nhân viên chính là những người tạo ra và nuôi dưỡng thương hiệu. Do vậy, “cá tính” của thương hiệu cũng chính là khí chất của số đông tập thể nhân viên của doanh nghiệp.
Nếu những nhà quản lý doanh nghiệp gò ép tạo ra các “cá tính” cho thương hiệu mà chúng xa lạ với tập thể nhân viên thì mâu thuẫn sẽ xảy ra và các giá trị cam kết của thương hiệu sẽ bị phá vỡ. Trong trường hợp này, nếu nhà quản lý muốn đổi mới giá trị của thương hiệu thì phải đi từ cái gốc là xây dựng khí chất mới cho nguồn nhân lực, vật lực. Nếu thực hiện tốt mối quan hệ này doanh nghiệp đã xây dựng được văn hóa tô chức của thương hiệu. -_ Với các giới hữu quan khác Thương hiệu với các tô chức quản lý doanh nghiệp (chính phủ), các tô chức xã hội: đây là mối quan hệ có tính trách nhiệm, nghĩa vụ mà theo đó thương hiệu cân tự giác thể hiện mà không cần phụ thuộc vào việc mình có thích hay không.
Nếu thực hiện tốt mối quan hệ này doanh nghiệp đã thê hiện vai trò của thương hiệu với xã hội, cộng đồng mà theo đó doanh nghiệp có thể gây dựng được văn hóa tiêu dùng về thương hiệu một cách vững chắc. Thương hiệu với các đối thủ cạnh tranh: đây là mối quan hệ tranh/hợp tùy tình hình. Tranh đấu hay hợp tác cũng đều là dé việc kinh doanh thương hiệu hiệu quả hơn. Tuy nhiên doanh nghiệp luôn phải xác định rằng có tranh và hợp thì thương hiệu mới có các hoạt động cải tiến, cách tân cách nghĩ, cách làm, cách thực hiện.
Mối quan hệ này đưa đến cho thương hiệu của doanh nghiệp luôn có “sức sống mới” và “trưởng thành vững chắc”. Thương hiệu với các tổ chức quản lý thương hiệu: đây là quan hệ không thê thiếu cho các thương hiệu. Việc bảo hộ thương hiệu không chỉ hiểu là các văn bản chứng nhận mà còn là các hoạt động khác như: vi phạm bản quyền, hàng giả, hàng nhái, tên miền trên Internet, việc sử dụng quyền chuyển 18 nhượng thương hiệu. Đây là mối quan hệ giúp thương hiệu của doanh nghiệp có được sự bảo vệ từ phía luật pháp.
Các yếu tố cấu thành thương hiệu Tên gọi thương hiệu Nhân vật đại diện Nhạc hiệu Hình 1. Các yếu tố cầu thành thương hiệu Theo Aaker — 1991 : các yếu tố cấu thành thương hiệu được chia làm 3 cấp độ: 1. Cấp độ 1- Lợi ích cốt lõi và cụ thể của thương hiệu Là phần trọng tâm của thương hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua việc tiêu dùng sản phẩm. Những mong muốn này được cụ thẻ hóa thành những đặc điểm cơ bản và thuộc tính về chất lượng, công suất, kiểu đáng, công dụng 1.