chương 1, tác giả đã trình bày một cách tổng quan nhất về luận điểm mà nghiên cứu cần giải quyết, những mục tiêu mà nghiên cứu hướng đến, phương pháp được tác giả áp dụng, đối tượng cũng như là phạm vi của nghiên cứu.Ngoài ra, chương này cũng đề cập đến mặt lý thuyết chuyên sâu từ những nghiên cứu của các tác giả trong quá khứ, căn cứ vào đó tác giả có thể sử dụng để làm nền tảng cho các giả thuyết, cũng như đề xuất mô hình nghiên cứu cho chương 2. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu 2.1 Thương hiệu và giá trị thương hiệu Các lý thuyết về thương hiệu Ngày nay các quan điểm, định nghĩa về thương hiệu được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra dựa trên nhiều trường phái khác nhau, qua hoạt động xem xét và tổng hợp, tác giả có thể phân loại thành hai quan điểm chính về thương hiệu, gồm quan điểm truyền thống (áp dụng trong quá khứ) và quan điểm tổng hợp được các nhà nghiên cứu ngày nay áp dụng. Quan điểm truyền thống: dựa theo từ điển Wikipedia, thương hiệu chính là hình ảnh, biểu tượng của nhà sản xuất, người đã tạo ra sản phẩm đó, được in trực tiếp lên trên bề mặt bao bì của sản phẩm nhằm thông báo đến người tiêu dùng về xuất xứ, chất lượng. Theo luận điểm này, thương hiệu sẽ là con đẻ của nhà sản xuất, thể hiện quyền sở hữu và có thể được uỷ quyền trực tiếp, chính thức cho những cá nhân, tổ chức đại diện thương mại cho sản phẩm.Theo tác giả Bennett(1995) công tác cho hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thì thương hiệu cụ thể hơn chính là những hình ảnh đặc trưng, tên gọi, kiểu dáng công nghiệp, hay như đôi khi chính là sự kết hợp của tất cả những thành tố trên, để có thể giúp người tiêu dùng có thể phân biệt và nhận dạng sản phẩm của các nhà sản xuất trên thị trường.Theo Hornby (1974), những yếu tố cụ thể như tổng hợp ký hiệu mới lạ, mẫu thiết kế đặc biệt của sản phẩm, hay bất kì điều gì mà tạo sự khác biệt giữa các sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau đều có thể được xem là thương hiệu.
Theo Kotler (1991) trong một báo cáo thì thương hiệu được diễn giải như là một biểu tượng, một cái tên gọi dùng để gợi nhớ, một dấu hiệu dùng để nhận biết, đôi khi là kiểu dáng thiết kế công nghiệp, hay chỉ là một thuật ngữ, hoặc nó sẽ bao hàm của tất cả yếu tố trên với nhiệm vụ dùng để phân biệt sản phẩm của những nhà sản xuất khác nhau đang có mặt trên thị trường.Theo định nghĩa này của Kotler, thì có thể xem thương hiệu như một nhân tố cấu thành và 10 không thể tách rời với sản phẩm, nó gắn liền với các công năng cụ thể, dùng để phân chia cũng như tạo sự khác biệt cho nhiều nhà sản xuất khác nhau trên thị trường.Lý thuyết này của Kotler xuất hiện cùng sự hình thành của ngành công nghiệp tỷ đô (quảng cáo) trong thời gian rất lâu.Tuy nhiên mãi những năm cuối thế kỷ XX, định nghĩa này đã không còn phù hợp và các nhà nghiên cứu về sau đã chỉ ra rằng nó không thể lý giải được vai trò của thương hiệu trong toàn cầu hóa, vốn đang trong cuộc chiến khốc liệt trong việc phân chia thị phần. Quan điểm tổng hợp: các học giả đi theo hướng quan điểm này, ví dụ như Davis (2002) cho rằng thương hiệu nó rất phức tạp, không chỉ là cái tên gọi hay một biểu tượng, mà bao hàm rất nhiều thuộc tính khác nhau mà có thể cung cấp những giá trị cốt lõi cho người dùng theo như yêu cầu, nhằm giải quyết các vấn đề mà họ gặp phải. David Aaker (1991) cho rằng thương hiệu chính là cảm xúc, là hình ảnh trực quan, sau đó nó có thể là văn hóa dân tộc, là biểu trưng. mà khách hàng có thể liên tưởng đến hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp.Học giả Stephen King đến từ công ty WPP đã đưa ra ý kiến rằng, những thứ được tạo ra bên trong công xưởng là sản phẩm, còn những thứ mà người tiêu dùng mua chính là thương hiệu.Sản phẩm có thể lỗi thời nhanh, còn thứ có thể trường tồn theo năm tháng đó là thương hiệu (điều kiện thương hiệu thành công trên thị trường).Theo nhóm tác giả Chevron, Bhat và Reddy (1998) cùng cho rằng sản phẩm chỉ là thành phần thiểu số cấu thành nên thương hiệu và là thành tố không thể tách rời, luận điểm này được rất nhiều học giả đồng thuận và đưa nó vào các nghiên cứu thực tiễn.Ngày nay các doanh nghiệp đã sử dụng thương hiệu nhằm phục vụ chiến dịch marketing cho chính công ty thay vì sản phẩm.Theo Kevin Lane Keller (1998) thương hiệu được các nhà cung cấp cam kết về chất lượng, giá trị sử dụng, về các chương trình hậu bán hàng, cũng như là sự thừa nhận của khách hàng về sự thỏa mãn của họ khi họ sử dụng.Định nghĩa về thương hiệu được WIPO (tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới) xem như là một nhận dạng đặc biệt, có thể là vô hình hoặc hữu hình, điều này giúp ghi nhận và phân biệt các loại sản phẩm khác nhau của nhiều nhà cung cấp cụ thể khác nhau trên thế giới.
Thương hiệu còn được xem là nét đặc trưng rất riêng và độc đáo và có ảnh hướng lên quyết định cuối cùng của khách hàng, mà cụ thể hơn chính là hành vi của họ.Có 11 học giả cho rằng, doanh nghiệp bên cạnh việc sở hữu các tài sản hữu hình, thì thương hiệu được xem như tài sản vô hình và cực kỳ quan trọng, khi doanh nghiệp mang đến những trải nghiệm tích cực cho khách hàng thì họ có xu hướng chung là trả thêm chi phí để được sở hữu và tăng thêm trải nghiệm từ thương hiệu đó, họ sẽ hình thành thói quen từ việc ghé thường xuyên đến nơi cung cấp sản phẩm của thương hiệu đó, khách hàng sẽ có những động thái tích cực như nói những điều tốt đẹp và sẽ có xu hướng giới thiệu thương hiệu đó đến với những người thân, bạn bè của họ.Do đó theo Kay(2006) các nhà quản lý thương hiệu luôn luôn nỗ lực để tạo ra những thương hiệu mạnh, giúp in đậm dấu ấn vào tâm trí của người tiêu dùng. Nền tảng lý thuyết về thương hiệu Như đã đề cập ở trên, những tài sản hữu hình của doanh nghiệp như bất động sản, máy móc thiết bị, thì tài sản vô hình chính là thương hiệu, nó có sự định hướng, là kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động khác liên quan đến marketing, bán hàng của doanh nghiệp.Đây chính là sự riêng biệt, độc đáo nhất của thương hiệu so với đối thủ khác trong cuộc chiến khốc liệt trong việc tranh giành khách hàng và thị phần. Những trải nghiệm của khách hàng, những lợi ích mà sản phẩm của thương hiệu đó cung cấp cho người tiêu dùng giúp họ thỏa mãn nhu cầu, cũng như giải quyết những nan giải trong cuộc sống, giúp cuộc sống của họ cân bằng và ngày càng tốt đẹp hơn. Tổng hợp từ những hàm ý trên có thể gọi đây là sức mạnh thương hiệu của doanh nghiệp.Bên cạnh đó, giá trị của tài sản thương hiệu doanh nghiệp còn được xem là thước đo, khẳng định những điểm rất riêng biệt, là chỗ đứng trên thị trường cạnh tranh so với các đối thủ khác cùng phân khúc về sản phẩm và khách hàng.Ngoài ra, xét về mặt tài chính thì thương hiệu cũng được thể hiện về mặt ý nghĩa bên trong, với các doanh nghiệp đang sở hữu thương hiệu nổi tiếng thì có thể được xem đây như là sự đảm bảo các dòng doanh thu ổn định, người dùng sẵn sàng chi trả để có thể có được những trải nghiệm từ thương hiệu đó hay chỉ là một phần của thương hiệu như là hàng hóa, dịch vụ mà họ đang quan tâm.
Vai trò của thương hiệu đối với khách hàng và doanh nghiệp Với khách hàng: thương hiệu được xem là các chỉ dẫn về những thuộc tính cũng như là đặc trưng đặc biệt của sản phẩm được in trên bao bì, điều đó nó có thể giúp 12 cho họ xác định được các thông tin liên quan đến sản phẩm đó như thành phần, xuất xứ, nguồn gốc.Ngoài ra, trong hàng triệu sản phẩm giống nhau được đưa ra trên thị trường nhằm cung cấp cho người dùng, thương hiệu giúp người tiêu dùng tìm kiếm nhanh chóng, tiết kiệm thời gian.Thông thường người tiêu dùng muốn giảm thiểu hoặc tránh các rủi ro như rủi ro về vật chất, rủi ro chức năng, rủi ro tiền bạc, rủi ro về mặt xã hội, rủi ro về mặt thời gian…thì họ sẽ có xu hướng tìm mua các thương hiệu nổi tiếng và uy tín.Vì vậy chính những thương hiệu này sẽ làm thu hẹp tối đa những rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải, khi khách hàng quyết định chọn mua và có trải nghiệm thực tế với một sản phẩm.Hơn thế nữa, về mặt xã hội thương hiệu còn có vai trò giúp cho khách hàng thể hiện chỗ đứng của bản thân trong xã hội, ví dụ như trào lưu sử dụng sản phẩm của Apple để thể hiện mình là người sành điệu trong giai đoạn 2014-2017.Một khi khách hàng đã trải qua những trải nghiệm về sản phẩm của thương hiệu nổi tiếng thì chính họ và những người thân quen sẽ hình thành nên những cảm xúc đặc biệt, họ sẽ cảm thấy bản thân trở nên đặc biệt và quan trọng hơn trong mắt và suy nghĩ của người khác, sự hài lòng của khách hàng với những sản phẩm sẽ tỷ lệ thuận với cảm xúc thông qua việc trải nghiệm đối với thương hiệu đó. Với doanh nghiệp: điểm cốt lõi đầu tiên, thương hiệu định hình hình ảnh của một doanh nghiệp hoặc sản phẩm ở nơi khách hàng.Điều này có nguồn gốc chính từ lời cam kết của thương hiệu, có thể là cam kết pháp lý, cam kết ngụ ý giữa doanh nghiệp và tệp khách hàng của mình.Tất thảy những nhân tố tạo nên thương hiệu sẽ giúp người tiêu dùng nắm bắt được những thông tin cần thiết, hiểu và lưu giữ trong trí nhớ chi tiết quan trọng về sản phẩm.Nó tạo ra cho người tiêu dùng sự tin tưởng trong việc lựa chọn sản phẩm và dịch vụ.Ngoài ra sự phân khúc trên thị trường cũng bắt nguồn từ thương hiệu.Các thương hiệu không giống nhau tạo ra sự khác biệt khi phát triển sản phẩm và dịch vụ của họ vì họ có thị trường riêng biệt để phát triển và nhắm đến tệp khách hàng mục tiêu khác nhau.