phần mở đầu và kết luận, Luận văn có kết cấu 3 chương Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về kiểm toán nội bộ tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. Chƣơng 2: Hoạt động kiểm toán nội bộ tại ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động kiểm toán nội bộ trong ngân hàng 1 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG 1. Sự hình thành và phát triển của kiểm toán nội bộ trên thế giới [2, 17] Kiểm toán ra đời vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, kiểm toán chỉ mới ở mức độ sơ khai tức là những người làm công tác kiểm toán đọc to những số liệu, tài liệu cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực.
Khi xã hội phát triển, hoạt động kế toán ngày càng mở rộng và phức tạp thì việc kiểm tra, kiểm soát về kế toán và tài chính càng được quan tâm hơn. Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp bùng nổ ở châu Âu, nhiều thành phần kinh tế ra đời xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau hình thành những tập đoàn kinh tế lớn. Do đó, sự tách rời giữa quyền sở hữu của ông chủ và người quản lý ngày càng xa, đã đặt ra cho các ông chủ một cách thức kiểm soát mới đó là dựa vào sự kiểm tra của những người chuyên nghiệp hay những kiểm toán viên bên ngoài. Vào những năm 30 của thế kỷ XX, từ việc phá sản của hàng loạt tổ chức tài chính và sự khủng hoảng kinh tế trên thế giới yêu cầu kiểm tra kế toán một cách độc lập đã được đặt ra, đồng thời ở các tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và phát triển chức năng kiểm tra một cách độc lập trong nội bộ với tên gọi kiểm toán nội bộ.
Năm 1941, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ (viết tắt là IIA) được thành lập tại NewYork để chia sẻ mối quan tâm chung và đào tạo các kiểm toán viên nội bộ. Đồng thời, Viện đã xây dựng và ban hành Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ vào năm 1978. IIA bắt đầu xuất bản Tạp chí chuyên ngành về chuẩn mực kiểm toán nội bộ từ năm 1981. Cùng với quá trình phát triển của kiểm toán nội bộ là quá trình phát triển của Hiệp hội kiểm toán nội bộ.
Hiện 2 nay, tổ chức này trở thành một tổ chức quốc tế và được thực hiện thông qua các phân hội tại 165 quốc gia. Đặc biệt năm 2002 Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty đã thúc đẩy Kiểm toán nội bộ ngày càng phát triển nhanh. Sự hình thành và phát triển của Kiểm toán nội bộ ngân hàng tại Việt Nam [2, 5, 6, 8-10, 13-17] Tại Việt Nam, Thuật ngữ Kiểm toán được biết đến vào những năm 80 còn Kiểm toán nội bộ đến cuối những năm 90 mới được đề cập tới. Bắt đầu là luật Doanh nghiệp năm 1995, có quy định liên quan đến kiểm toán nội bộ là Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị (HĐQT) thành lập.
Nghị quyết 59/CP do Chính phủ ban hành ngày 03/10/1996 đề cập chưa rõ ràng, cụ thể chức năng, nhiệm vụ và hoạt động kiểm toán nội bộ. Đến năm 1997, Bộ tài chính ban hành Quy chế Kiểm toán nội bộ áp dụng cho Doanh Nghiệp nhà nước (DNNN) theo Quyết định số 832/TC- QĐ-CĐKT ngày 28/10/1997; tiếp theo là một loạt các thông tư ra đời: Thông tư số 52/1998/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành ngày 14/6/1998 về việc “Hướng dẫn tổ chức bộ máy Kiểm toán nội bộ tại DNNN” và Thông tư số 171/1998/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành ngày 22/12/1998 về việc “Hướng dẫn thực hiện Kiểm toán nội bộ tại DNNN”, bước đầu đã tạo ra một hành lang pháp lý cho hệ thống KTNB trong các DNNN. Trong Thông tư số 171/1998/TT-BTC, hướng dẫn thực hiện KTNB tại DNNN đã quy định: “Kiểm toán nội bộ là công việc thường xuyên của Doanh nghiệp, do Doanh nghiệp tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo độ tin cậy của các số liệu kế toán và các thông tin trong báo cáo tài chính của Doanh nghiệp. Bộ máy Kiểm toán nội bộ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tổng giám đốc ”.
3 Trong lĩnh vực ngân hàng cũng vậy, hệ thống kiểm tra kiểm soát và kiểm toán Ngân hàng thương mại được xây dựng, vận hành trên cơ sở Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 và Quyết định số 03/1998/QĐ-NHNN ngày 03/01/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về Quy chế kiểm tra, kiểm toán nội bộ của các Tổ chức tín dụng. Theo đó, hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ được tổ chức thành bộ phận chuyên trách đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Tổng giám đốc. Chức năng kiểm soát nội bộ bị đồng nhất với chức năng kiểm toán nội bộ. Vì vậy, Kiểm toán nội bộ chỉ dừng lại ở công tác hậu kiểm, những vấn đề phát hiện thường là những sai phạm đã xảy ra, chưa có tác dụng trong việc phát hiện, ngăn ngừa, quản lý rủi ro và nhất là tư vấn cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có của ngân hàng.
Luật các Tổ chức tín dụng năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 đã tách bạch được hai chức năng kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ. Ngày 01/8/2006, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành 2 quyết định: Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN về “Ban hành quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Tổ chức tín dụng” và Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN về “Quy chế kiểm toán nội bộ của Tổ chức tín dụng”. Bằng việc ban hành riêng 2 quyết định, Ngân hàng nhà nước đã phân biệt rõ thế nào là kiểm soát nội bộ và thế nào là kiểm toán nội bộ. Đặc biệt Ngân hàng nhà nước đã rất coi trọng những nguyên tắc cơ bản là tính độc lập, tính khách quan của kiểm toán nội bộ: tại khoản 1 Điều 7 trong Quyết định 37 quy định bộ máy của KTNB được tổ chức thành hệ thống theo ngành dọc, trực thuộc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Kiểm soát đã áp dụng theo thông lệ quốc tế tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế: về tiêu chuẩn đối với người làm công tác kiểm toán nội bộ tại Điều 8 Quyết định 37/2006/QĐ-NHNN, không quy định về số năm kinh nghiệm đối với cán bộ làm KTNB nói chung, riêng với Trưởng, Phó Kiểm toán nội bộ quy định tối thiểu là 3 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng là chưa có tính khả thi.
So với Quyết định số 832/TC/QĐ/CĐKT của Bộ Tài chính, tại khoản 3 Điều 12 quy định tiêu chuẩn chung đối với KTNB trong tất cả các DNNN 4 là: “Đã công tác thực tế trong lĩnh vực tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên, trong đó có ít nhất 3 năm làm việc tại doanh nghiệp nơi được giao nhiệm vụ”. Như vậy, quy định tại Quyết định 37 của NHNN đối với hoạt động kinh doanh ngành ngân hàng mang tính đặc thù cao, lĩnh vực hoạt động rộng lớn và phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, ứng dụng công nghệ hiện đại, nếu Trưởng kiểm toán nội bộ chỉ 3 năm kinh nghiệm trong ngành khó có thể am hiểu sâu được mọi lĩnh vực hoạt động của ngân hàng; khó có thể chỉ đạo điều hành công việc một cách có hiệu quả. Ngoài ra, NHNN chưa đề cập đến yêu cầu về áp dụng chuẩn mực kiểm toán, chứng chỉ kiểm toán nội bộ, số giờ đào tạo tối thiểu trong một năm. Đến ngày 29/12/2011 Ngân hàng nhà nước ban hành Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ của hệ thống tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế hai Quyết định 36/2006/QĐ-NHNN và 37/2006/QĐ-NHNN.
Thông tư này không nhắc đến bộ phận Kiểm tra kiểm soát nội bộ chuyên trách chỉ bổ sung một số vấn đề liên quan đến Kiểm toán nội bộ. Theo điều 13 tiêu chuẩn của Trưởng và Phó Ban kiểm toán nội bộ đã được điều chỉnh tăng từ 3 năm lên 5 năm cụ thể “tối thiểu phải có bằng đại học thuộc các chuyên ngành ngân hàng, tài chính, kế toán, kiểm toán và có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng tối thiểu là 05 năm”. Ngoài ra thông tư còn thêm Kiểm toán nội bộ công nghệ thông tin với các tiêu chuẩn của một Kiểm toán nội bộ bình thường và phải có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin tối thiểu là 03 năm. Đồng thời cũng bổ sung tiêu chuẩn của Kiểm toán nội bộ: “Có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng hoặc làm công tác kiểm toán tối thiểu là 03 năm” so với Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN thì không có tiêu chuẩn quy định thời gian công tác.
5 So với những năm đầu hình thành, các văn bản liên quan đến kiểm toán nội bộ Ngân hàng đã dần dần tiến gần đến các tiêu chuẩn của quốc tế. Hệ thống kiểm soát nội bộ [2] Tại sao Kiểm toán viên nội bộ phải tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ? Việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ giúp Kiểm toán viên xác định rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro, từ đó xác định phạm vi kiểm toán, phương pháp kiểm toán hình thành nên một kế hoạch kiểm toán thích hợp, rõ ràng và chặt chẽ nhằm mang lại kết quả cao trong hoạt động kiểm toán. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Trên cơ sở những quy định mang tính chất hướng dẫn của các cơ quan nhà nước, các đơn vị thành lập và hình thành nên những quy định cụ thể phù hợp với hoạt động cho đơn vị mình nhằm hướng dẫn thực hiện các nghiệp vụ và kiểm soát hoạt động gọi là hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm soát nội bộ. Theo COSO (Committee of Sponsoring Organizations of Treadway Commission là một ủy ban bao gồm nhiều đại diện của các Hiệp hội kế toán, kiểm toán tại Mỹ thành lập nghiên cứu về Kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ) thì kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu: hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động; tính chất đáng tin cậy của báo cáo tài chính; sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành.