lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị RRTD của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Long An Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị RRTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Long An 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng NHTM là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế, thực hiện huy động nguồn vốn từ các chủ thể thừa vốn để chuyển cho các chủ thể thiếu vốn sử dụng thông qua hoạt động tín dụng. Nghiệp vụ tạo ra phần lớn thu nhập cho các NHTM chính là lãi từ hoạt động tín dụng. Theo đó, hoạt động cấp tín dụng của NHTM đƣợc hiểu là việc ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho khách hàng trong một khoảng thời gian xác định; sau khoảng thời gian đó, khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi theo thỏa thuận (Lê Thị Mận, 2011). Mặc dù là hoạt động mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng nhƣng hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng, trong đó có rủi ro tín dụng.
RRTD là rủi ro quan trọng bậc nhất trong hoạt động của NHTM (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Nhiều nghiên cứu về RRTD của NHTM đƣợc thực hiện và vì vậy cũng có nhiều định nghĩa về RRTD. Theo Nguyễn Thị Kim Nhung, Phạm Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh(2017), RRTD xảy ra khi khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản trong hợp động tín dụng, thƣờng thể hiện qua việc trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn thanh toán. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2006), RRTD là khả năng mà đối tác không thực hiện nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận.
Trong đó, đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng, RRTD xảy ra khi ngƣời vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thoản thuận trong hợp đồng tín dụng. Nhìn chung, RRTD là loại rủi ro quan trọng của ngân hàng, xảy ra khi khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận, gây ra thiệt hai cho ngân hàng. 8 RRTD tồn tại tất yếu trong hoạt động của các NHTM hay NHTM không thể triệt tiêu hoàn toàn. Nguyên nhân là do quan hệ tín dụng đƣợc hình thành dựa trên sự tin tƣởng vào thiện chí trả nợ và khả năng trả nợ của ngƣời vay.
Yếu tố về thiện chí trả nợ, là yếu tố định tính, khó kiểm soát trong quá trình vay vốn. Khả năng trả nợ là yếu tố mặc dù định lƣợng đƣợc nhƣng lại khó đoán trong tƣơng lai. Có nhiều nguyên nhân có thể ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng dẫn đến RRTD nhƣ: (1) nguyên nhân khách quan là các biến cố bất khả kháng gồm dịch bệnh, thiên tai, suy thoái kinh tế…; (2) nguyên nhân chủ quan có thể đến từ phía ngân hàng, ngƣời vay nhƣ năng lực sử dụng vốn của khách hàng chƣa tốt, chính sách tín dụng của ngân hàng chƣa chặt chẽ…tạo ra kẽ hở làm cho khách hàng chiếm đoạt vốn của ngân hàng… Vì không thể triệt tiêu RRTD trong khi RRTD lại gây ra hậu quả nghiêm trọng nên các NHTM luôn quan tâm đến việc quản trị RRTD nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng nói riêng, hệ thống NHTM nói chung.2 Phân loại rủi ro tín dụng 1.1 Căn cứ vào yếu tố cấu thành Trong tài liệu của Bùi Diệu Anh, Lê Thị Hiệp Thƣơng, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Võ Thị Thanh Nga (2013), RRTD bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Trong đó, rủi ro giao dịch là loại rủi ro xảy ra gắn liền với một khoản vay hoặc một khách hàng.
Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Khi xảy ra tình trạng thông tin bất cân xứng, ngân hàng đứng ở vai trò cấp tín dụng có thể lựa chọn sai lầm, chấp nhận cho vay khách hàng xấu sẽ dẫn đến rủi ro lựa chọn. Nếu nguyên nhân dẫn đến rủi ro giao dịch là do các yếu tố liên quan đến các quy định về đảm bảo an toàn cho khoản vay chƣa tốt nhƣ giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn giá trị khoản vay, tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm quá cao hoặc các quy định về giám sát khoản vay đƣợc nới lỏng. Đồng thời, rủi ro giao dịch cũng có thể xuất hiện do lỗi vô ý hoặc cố ý trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của nhân viên.
Nếu rủi ro giao dịch chỉ gắn liền với một khoản vay, một khách hàng vay thì rủi ro danh mục là loại rủi ro phát sinh do các nguyên nhân đến từ việc quản lý danh mục 9 cấp tín dụng của ngân hàng. Nếu danh mục cấp tín dụng quá tập trung vào một số ngành, một số khách hàng, không thực hiện đa dạng hóa danh mục theo ngành nghề, đối tƣợng sẽ dẫn đến rủi ro tập trung. Ngoài ra, trong danh mục cấp tín dụng còn chịu rủi ro nội tại gắn liền với đặc điểm hoạt động của ngành nghề, lĩnh vực kinh tế của các khách hàng mà ngân hàng cho vay.2 Căn cứ vào mức độ tổn thất Theo Basel (2006), nếu căn cứ vào mức độ tổn thất của RRTD có thể chia RRTD thành 2 cấp độ là rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Trong đó: - Rủi ro đọng vốn là loại rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay chậm trả nợ so với thỏa thuận ban đầu trong hợp đồng tín dụng.
Việc chậm trả này làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong thanh khoản, ảnh hƣởng đến kế hoạch sử dụng vốn và tăng chi phí hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, đối với mức độ này ngân hàng vẫn thu lại đƣợc số tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. - Rủi ro mất vốn là loại rủi ro có cấp độ cao hơn so với rủi ro đọng vốn, thể hiện qua việc khách hàng vay không trả đƣợc nợ theo thỏa thuận ban đầu. Nếu trong rủi ro đọng vốn, ngân hàng vẫn có thể thu tiền trả nợ thì đối với rủi ro mất vốn ngân hàng khó lòng thu hồi đƣợc nợ, buộc phải tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, các chi phí liên quan đến việc xử lý sau khi rủi ro phát sinh, dẫn đến tình trạng mất vốn của ngân hàng.
Điều này ảnh hƣởng tiêu cực đến lợi nhuận hoạt động của các NHTM.3Ảnh hƣởng của rủi ro tín dụng 1.1 Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại RRTD là một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản cho các NHTM hay nói cách khác giữa RRTD và rủi ro thanh khoản có mối quan hệ với nhau, (Bùi Diệu Anh, 2013). Khi khách hàng vay vốn không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ theo kế hoạch sẽ làm thay đổi kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, có thể làm giảm nguồn dự trữ, dẫn đến tình trạng căng thẳng. Trƣờng hợp này xảy ra sẽ làm cho các NHTM phải vay vốn trên thị trƣờng liên ngân hàng với lãi suất cao hơn so với thị 10 trƣờng từ dân cƣ. Nếu tình trạng thiếu hụt thanh khoản kéo dài và trầm trọng có thể dẫn đến tình trạng mất uy tín, phá sản của ngân hàng.
Hoạt động của NHTM là hoạt động dựa trên cơ sở tin tƣởng. Muốn huy động vốn, NHTM cần phải xây dựng uy tín đối với các đối tác trong nền kinh tế. Nếu ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao sẽ là yếu tố cho thấy hoạt động của ngân hàng chƣa tốt, ảnh hƣởng tiêu cực đến uy tín, thƣơng hiệu của ngân hàng trên thị trƣờng. Điều này làm cho ngân hàng mất đi lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng, khó huy động vốn ở chi phí hợp lý.
RRTD có ảnh hƣởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các NHTM (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Nguyên nhân là do khi không thu hồi đƣợc nợ, ngân hàng giảm nguồn thu nhập nhƣng vẫn phải đảm bảo chi trả lãi cho ngƣời gửi tiền. Đồng thời, các chi phí liên quan đến các khoản nợ quá hạn, nợ xấu nhƣ chi phí trích lập dự phòng RRTD, chi phí xử lý nợ… tăng lên. Nguồn thu nhập thì giảm trong khi chi phí lại tăng lên sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm sút.
Nếu RRTD xảy ra nhiều, trong một khoản thời gian kéo dài, gây ra tình trạng thua lỗ triền miên sẽ dẫn đến tính trạng NHTM bị thua lỗ, phá sản hoặc buộc sáp nhập, hợp nhất với các ngân hàng hoạt động tốt hơn.2 Ảnh hưởng đến khách hàng RRTD là một trong những rủi ro quan trọng của NHTM, không chỉ ảnh hƣởng đến NHTM mà còn ảnh hƣởng đến các đối tác khác của ngân hàng. Đối với ngƣời vay không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, việc tiếp cận vốn của ngƣời vay sau đó sẽ trở nên khó khăn hơn do bị mất uy tín. Bên cạnh đó, lãi suất vay vốn của ngƣời vay sẽ cao hơn do bị các tổ chức tín dụng đánh giá có mức độ rủi ro cao hơn so với những khách hàng thực hiện đúng cam kết nghĩa vụ trả nợ. Nếu không tiếp cận đƣợc nguồn vốn chính thức, khách hàng có thể phải vay mƣợn trên thị trƣờng phi chính thức với lãi suất cao hoặc phải thu hẹp quy mô hoạt động, thậm chí tuyên bố phá sản.
11 Đối với ngƣời gửi tiền, việc ngân hàng phá sản do thua lỗ từ việc quản lý tín dụng kém hiệu quả sẽ có thể dẫn đến tình trạng mất tiền hoặc khó thu hồi đầy đủ khoản tiền gửi tại ngân hàng 1.3 Ảnh hưởng đến nền kinh tế NHTM là trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế, do đó, khi ngân hàng hoạt động kém hiệu quả dẫn đến phá sản có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Nguyên nhân là do khi có 1 ngân hàng phá sản sẽ làm cho công chúng sụt giảm niềm tin vào hệ thống ngân hàng, dẫn đến hiện tƣợng rút tiền ồ ạt nên các ngân hàng không đủ tiền đảm bảo thanh khoản, dẫn tới đổ vỡ. Hiện tƣợng này xảy ra sẽ làm cho quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế khó khăn.