CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG CHO VAY TAI NGAN HANG THUONG MAI VA HOAT DONG CUA DOANH NGHIEP SIEU VI MO 1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại 1.1 Khái niệm Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại dé tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nỗi chi phí tiền gửi, chỉ phí dự trữ, chỉ phí kinh doanh và quản lý, chỉ phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chỉ phí rủi ro đầu tư. Tại Việt Nam, theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, cho rằng “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi”.
Định nghĩa này được các ngân hàng và tổ chức tín dung ap dung dé lam can cứ để phát triển các hoạt động cho vay của mình. Hơn nữa, việc cho vay đối với khách hàng cá nhân cũng như khách hàng doanh nghiệp phải đáp ứng một số yêu cầu bắt buộc theo quy định cụ thể của Ngân hàng nhà nước như sau: (i) Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không.
Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay sau này. Việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra được dòng tiền để trả nợ cho ngân hàng. Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cô quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
(ii) Phải hoàn trả sốc và lãi đúng hạn Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong một thời gian nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn trả lại cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền. Hơn nữa, bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả, cả gốc và lãi.
Phân loại cho vay Có nhiều cách để phân loại cho vay. Hiện nay các ngân hàng thương mại thường phân loại theo những tiêu chí như sau: 1. Căn cứ vào thời gian cho vay Thời gian cho vay là khoảng thời gian kể từ khi khách hàng nhận nợ khoản tiền vay đầu tiên đến khi trả hết nợ. Thời gian cho vay phụ thộc vào chu kỳ luân chuyên vốn của đối tượng vay vốn, nguồn vốn trả nợ ngân hàng của người vay và khả năng nguồn vốn của ngân hàng.
Với tiêu chí “thời gian cho vay” thì cho vay được chia làm ba loại: a. Cho vay ngắn hạn: là loại hình cấp tin dụng với thời hạn từ l năm trở xuống. TDBL ngắn hạn thường phù hợp với đối tượng khách hàngvay vốn để phục vụ hoạt động SXKD. Do thời gian vay ngắn, việc kiểm soát rủi ro đối với NH trở nên dễ dàng hơn do nếu có rủi ro xảy ra thì NH cũng đã kịp thời ứng phó được.
Cho vay trung hạn: Là loại hình cấp tín dụng cho KH có thời hạn từ I - 5 năm. Với KHBL, sản phẩm cho vay này thường phục vụ cho mục đích tiêu dùng hoặc cho vay đầu tư dự án đối với KHDN. Cho vay đài hạn: Là loại hình cấp tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên. Loại hình tín dụng này thường phục vụ cho mục đích tiêu dùng như mua, xây dựng và sửa chữa nhà ở, mua ô tô với KHBL hoặc cho vay đầu tư dự án đối với KHDN.
Căn vào tinh chất luân chuyển vẫn vay a. Cho vay sản xuất kinh doanh Cho vay sản xuất kinh doanh là loại cho vay mà tiền vay tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình bỏ vốn mua các yếu tố sản xuất sau đó thực hiện quá trình lao động để kết hợp các yếu tố sản xuất thành sản phẩm và tiêu thụ, sau đó tiếp tục quá trình tái sản xuất. Đối với cho vay sản xuất kinh doanh có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn.
Thông thường đối với lĩnh vực lưu thông hàng hoá các ngân hàng thường cho vay ngắn hạn. Cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là loại cho vay mà mục đích là để sử dụng vào tiêu dùng. Khác với cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng vốn vay bị tiêu dùng dần không tạo ra sản phẩm hàng hoá, vì vậy cho vay tiêu dùng phải có nguồn thu nợ độc lập với dự án, như nguồn tiền lương, nguồn thu từ bán các tài sản khác của người vay. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay Đề thực hiện được nguyên tắc hoàn trả khi cho vay các ngân hàng thường áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Đảm bảo tiền vay là việc bằng cơ sở pháp lý tạo thêm cho ngân hàng một nguồn thu thứ hai độc lập với nguồn thu từ tài sản cho vay. Các biện pháp đảm bảo tiền vay thông thường là thế chấp, bảo lãnh, cầm có. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay mà hình thức bảo đảm là tài sản.
Khi cho vay bảo đảm bằng tài sản song song với hợp đồng vay tiền, ngân hàng và khách hàng ký thêm hợp đồng bảo đảm bằng tài sản. Nội dung cốt lõi của hợp đồng 10 bao dam bang tài sản là nếu khách hàng không trả được nợ, ngân hàng sẽ phát mại tài sản của khách hàng hoặc của người thứ ba để lấy tiền trả nợ ngân hàng. Phổ biến các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại hiện nay là cho vay đảm bảo bằng tài sản. Tài sản đảm bảo có thể là tài sản của người vay (thế chấp, cầm cố) cũng có khi của người thứ 3 (thế chấp, cầm cố bằng tài sản của người thứ ba).
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản chia thành 02 loại: - Cho vay có bảo đảm đầy đủ bằng tài sản - Cho vay có bảo đảm một phần bằng tài sản b. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản là loại cho vay mà biện pháp bảo đảm không bằng tài sản. Khi cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, biện pháp bảo đảm có thể là bảo lãnh của ngân hàng khác, cho vay tín chấp.Loại cho vay không có đảm bảo bằng tài sản chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại. Phổ biến nhất của loại cho vay không đảm bảo bằng tài sản là cho vay tín chấp.
Các ngân hàng thương mại thường lựa chọn những khách hàng có tín nhiệm, những khách hang là người có thu nhập cao, có địa vị xã hội để cho vay tín chấp. Cho vay tín chấp thường là cho vay tiêu dùng. Nhiều ngân hàng cho vay tín chấp là vì các mục tiêu xã hội, những dự án cho vay như vậy thường là những dự án cho vay theo chỉ định của Chính phủ. Hiện nay, để vừa đảm bảo thu hồi khoản nợ, vừa đảm bảo tính cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau, các NHTM áp dụng biện pháp bảo đảm là bảo đảm bằng một phần tài sản đối với một số khách hàng ưu tín, có tiềm lực tài chính tốt.
Tỷ lệ, vốn vay có đảm bảo bằng tài sản phụ thuộc vào độ tín nhiệm của từng khách hàng cũng như chính sách quản trị rủi ro của từng khách hàng. Căn cứ vào phương thức hoàn trả a. Cho vay trả góp Cho vay trả góp là loại cho vay mà quá trình trả nợ diễn ra đều đặn. Chu kỳ trả nợ bằng nhau, số tiền trả nợ gốc các kỳ bằng nhau.
11 Cho vay trả góp cũng phân thành hai phương thức cho vay trả góp, hai phương thức cho vay trả góp khác nhau ở cách tính và thu lãi tiền vay. Phương thức thứ nhất là: để có số tiền trả nợ bằng nhau ngân hàng đã tính sẵn tiền lãi trên số tiền vay ban đầu sau đó chia đều cho những kỳ trả nợ. Lãi suất danh nghĩa của phương thức cho vay trả góp này là lãi suất được tính trên số tiền vay ban đầu. Vì vậy mà lãi suất cho vay trả góp theo phương thức này thường thấp hơn lãi suất cho vay các phương thức cho vay khác.
Sở đĩ cho vay trả góp theo phương thức này có lãi suất thấp bởi vì nó được tính trên dư nợ ban đầu khi khách hàng nhận nợ, thực tế số đư nợ giảm dần theo thời gian. Phương thức cho vay trả góp mà tiền lãi được tính trên dư nợ ban đầu sau đó chia đều cho các kỳ trả nợ hiện rất phổ biến khi cho vay tiêu dùng, như cho vay mua ôtô trả góp, cho vay mua nhà trả góp. Ưu điểm của phương thức này là khách hàng rất đễ nhớ và dễ tính toán bởi tính đều đặn của nó.Phương thức cho vay trả góp thứ hai là tính lãi trên số dư nợ thực tế. Khi cho vay khách hàng và ngân hàng thoả thuận số tiền gốc được chia đều cho các kỳ trả nợ, số tiền lãi được tính trên số tiền gốc của kỳ trước.
Như vậy số tiền trả nợ không bằng nhau giữa các kỳ trả nợ do số tiền lãi nhỏ dần theo đư nợ thực tế.