Chương 1: Cơ sở lý thuyết về QTRRHĐ tại NHTM. - Chương 2: Thực trạng QTRRHĐ tại Eximbank. - Chương 3: Giải pháp tăng cường QTRRHĐ tại Eximbank giai đoạn 2016-2020. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc thù, được biểu hiện thông qua các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. Có thể nhìn nhận rủi ro trong kinh doanh ngân hàng dưới nhiều góc độ khác nhau, theo Ủy ban Basel phân biệt rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thành 3 loại: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và RRHĐ. Rủi ro tín dụng: Basel đưa ra khái niệm về rủi ro tín dụng năm 2000 như sau: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tốn thất khi khách hàng vay hoặc là bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng như cam kết đã thỏa thuận”.
Rủi ro thị trường: Rủi ro thị trường được ủy ban Basel nhấn mạnh trong bảng sửa đổi Hiệp ước Basel I vào năm 1996, theo đó: “Rủi ro thị trường là khả năng tổn thất xảy ra trong và ngoài bảng cân đối của ngân hàng, phát sinh từ biến động giá cả trên thị trường”. Theo ủy ban Basel, rủi ro thị trường là cộng gộp của các loại rủi ro bộ phận như rủi ro lãi suất, rủi ro vốn, rủi ro ngoại hối, rủi ro quyền chọn và rủi ro hàng hóa. RRHĐ: RRHĐ là rủi ro xảy ra trong tác nghiệp hàng ngày của ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể do con người, do sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, hoặc do sự kiện khách quan bên ngoài. Rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về rủi ro hoạt động Theo ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “RRHĐ là khả năng gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt 2 các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài, RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý 1nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược2 và danh tiếng3”. Từ khái niệm cho thấy, RRHĐ có thể là do sai sót của cá nhân, sai sót trong quản trị nhân sự, gian lận và cố ý phạm tội, sai sót trong quy trình hay cố ý làm sai quy trình, sai sót trong hệ thống thông tin, sự cố bất khả kháng,.Nói cách khác, RRHĐ là một khái niệm rộng bao trùm mọi mặt tác nghiệp hàng ngày của ngân hàng, không thể nhận thức ngay đầy đủ các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại RRHĐ thường do các nhóm yếu tố sau tạo ra, chủ yếu là do con người, quy trình, hệ thống và các sự kiện bên ngoài. Các nhóm yếu tố đó được thể hiện cụ thể như sau: Rủi ro do yếu tố con người RRHĐ tăng lên cùng với sự tham gia của con người vào hoạt động khởi tạo, phê duyệt, báo cáo hoặc điều chỉnh một giao dịch.
Các khía cạnh RRHĐ liên quan tới con người bao gồm: hành vi gian lận, lỗi, sự bỏ sót và lạm dụng của nhân viên. Nguyên nhân sâu sa của các lỗi, các sai sót từ con người là từ sự yếu kém, tiêu cực trong khâu tuyển dụng, phân bổ và quản lý nhân sự của ngân hàng, ví dụ: bố trí nhân sự không phù hợp, không phân tách trách nhiệm rõ ràng, không đảm bảo việc kiểm tra chéo, thiếu sự giám sát, không đào tạo đầy đủ. Ngân hàng càng có nhiều nhân viên, nhiều địa điểm giao dịch thì khả năng xảy ra RRHĐ ngày càng cao. 1 Rủi ro pháp lý: rủi ro không rõ từ các hoạt động pháp lý hoặc không chính xác trong việc áp dụng và hiểu các hợp đồng, luật hay quy chế, không hiểu kỹ về pháp lý trong các hoạt động có liên quan đến nước ngoài, hoặc tham gia vào những hợp đồng vô hiệu.
2 Rủi ro chiến lược bao gồm: Đưa ra chiến lược sai lầm, thực hiện không đúng mục tiêu chiến lược, không điều chỉnh chiến lược kịp thời khi môi trường kinh doanh thay đổi. 3 Rủi ro danh tiếng: Rủi ro khi các ngân hàng bị dư luận đánh giá xấu, gây khó khăn nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn hoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng. 3 Rủi ro do các quy trình Bao gồm các rủi ro phát sinh do thiếu quy trình; có quy trình nhưng không đầy đủ, không hoàn chỉnh hay có nhiều điểm bất cập; quy trình không phù hợp với nghiệp vụ kinh doanh; quy trình chồng chéo vừa thừa vừa thiếu,.gây khó khăn và dễ mắc sai sót cho cán bộ tác nghiệp, tạo kẻ hở cho kẻ xấu trục lợi cá nhân. RRHĐ tăng theo mức độ phức tạp của giao dịch (giao dịch có nhiều bước, nhiều quy định, nhiều mốc tham chiếu) các giao dịch đòi hỏi phải có KSNB và phê duyệt; và các giao dịch không được xác định rõ ràng hoặc không được thực hiện theo đúng chính sách quy định.
Rủi ro do hệ thống/công nghệ yếu kém Rủi ro phát sinh từ hệ thống công nghệ có thể là: Tốc độ truyền dữ liệu chậm gây ách tắc trong tác nghiệp, lỗi phần mềm dẫn đến kết quả giao dịch sai. Hệ thống bảo mật có khe hở khiến kẻ gian lợi dụng được. Không có khả năng lưu trữ, sao lưu, khôi phục dữ liệu một cách hoàn hảo. Không có trung tâm dự phòng thay thế khi có sự cố xảy ra, hoặc có nhưng không vận hành hoàn hảo khi có sự cố xảy ra.
Rủi ro do sự kiện bên ngoài Bao gồm các rủi ro phát sinh do các hành động và sự kiện bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. Tác động bên ngoài có thể dẫn đến từ các hành vi lừa đảo, trộm cấp, cố ý phá hoại của các đối tượng bên ngoài ngân hàng (đánh bom, phá rối trật tự,…), hoặc do các sự kiện tự nhiên (bão lụt, động đất,.) gây gián đoạn hoạt động và thiệt hại cho ngân hàng hoặc do chính sách thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng. (Nguyễn Văn Tiến, 2015) 4 RỦI RO HOẠT ĐỘNG Con người Quy trình Hệ thống Bên ngoài - Cẩu thả, bất cẩn - Thiếu quy trình - Không hiện đại - Rủi ro từ đối tác - Gian lận - Có nhưng không - Có khe hở trong - Khủng bố, phá - Vượt quyền hiệu quả bảo mật hoại, cướp, trộm - Quản trị nhân - Chồng chéo, bất - Không có dự - Cháy hay thảm sự tồi cập phòng hỏa tự nhiên Hình 1.1: Sơ đồ tóm lược nguyên nhân RRHĐ Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1. Hậu quả của rủi ro hoạt động Một khi RRHĐ xảy ra có khả năng để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng và gây nguy cơ thiệt hại tài chính: Trước hết, RRHĐ làm thất thoát tài sản, tác động xấu đến tình hình tài chính.
RRHĐ như mất tiền, dữ liệu khách hàng, thiệt hại cơ sở vật chất, hay việc đánh giá tài sản đảm bảo sai quy định, không tuân thủ các nguyên tắc và quy trình phân tích báo cáo tài chính, dẫn đến các hoạt động thẩm định không chính xác, gây ra nợ xấu,.RRHĐ gây ra nhiều vụ kiện tụng, tranh chấp với khách hàng. Rủi ro trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng không tuân thủ các quy định của ngân hàng như đánh giá sai giá trị tài sản đảm bảo, không thực hiện theo dõi tình hình nợ của khách hàng, không công chứng đăng ký giao dịch đảm bảo theo quy định. Nếu 5 khách hàng không có khả năng trả nợ dẫn đến việc kiện tụng tranh chấp thời gian xử lý kéo dài dẫn đến tốn kém chi phí, nguồn nhân lực. Kế tiếp, RRHĐ gây mất tài sản thông tin của ngân hàng.
NHTM hoạt động và xử lý giao dịch dựa trên cơ sở thông dữ liệu, thực hiện thao tác trên hệ thống CNTT, RRHĐ gây ra tình trạng mất kiểm soát hệ thống, hệ thống cơ sở dữ liệu ngừng hoạt động, vô hiệu hóa hệ thống bảo mật, khiến toàn bộ thông tin của khách hàng bị đánh cấp, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, RRHĐ còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, bán sản phẩm. Các RRHĐ như thực hiện sai quy trình, sai sót trong quá trình nhập dữ liệu hay sai phạm trong quá trình phát triển sản phẩm,.dẫn đến không phục vụ tốt, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Ngoài ra, RRHĐ còn ảnh hưởng tinh thần làm việc của nhân viên, văn hóa công sở, mối quan hệ đồng nghiệp trong ngân hàng.
Các trường hợp RRHĐ khi nhân viên lợi dụng sự sơ hở của đồng nghiệp để lấy cấp tài khoản, mật khẩu thực hiện các giao dịch, lợi dụng cơ chế kiểm soát không chặt chẽ để thực hiện các hành vi gian lận hay thông đồng thực hiện. Khi có sự cố RRHĐ xảy ra và bị phát hiện sẽ dẫn đến mất lòng tin lẫn nhau, nội bộ mất đoàn kết, thái độ hợp tác trong công việc và giao tiếp trong nội bộ ngân hàng. Cuối cùng, RRHĐ gây ảnh hưởng uy tín, có thể dẫn đến một sự sụp đổ trong tương lai. Đây được xem là hậu quả nghiêm trọng nhất của RRHĐ.
Khi cán bộ nhân viên hoặc lãnh đạo ngân hàng sai phạm, hoặc ngân hàng thường xuyên xảy ra các việc lừa đảo, thất thoát tài sản,.gây ra tâm lý bất an trong khách hàng, ảnh hưởng độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Mặt khác, sự sụt giảm uy tín lâu dài và nghiêm trọng, có thể tạo ra nguy cơ ngân hàng bị mất thanh khoản, sụp đỗ. QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm quản trị rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại Cùng với việc thừa nhận RRHĐ như là một rủi ro độc lập, trong ấn phẩm “Principles for Sound Management of Operational Risk”, xuất bản năm 2003, sửa đổi bổ sung 2011, ủy ban Basel đưa ra định nghĩa về QTRRHĐ như sau: “QTRRHĐ được định nghĩa là một quá trình xoay vòng liên tục bao gồm các giai đoạn: nhận diện RRHĐ, đo lường tác động của rủi ro (nếu có thể), đảm bảo có một kế hoạch dự phòng vốn và chương trình giám sát rủi ro hiệu quả, giám sát mức độ ảnh hưởng của rủi ro và dự phòng vốn tương ứng trên cơ sở hoạt động liên tục, đưa ra biện pháp nhằm kiểm soát và đối phó với tác động của rủi ro, báo cáo ban giám đốc và HĐQT ngân hàng”.
Như vậy, có thể thấy QTRRHĐ là một chu trình liên tục.