Chương 1 cung cấp cái nhìn tổng quan toàn diện về cấu trúc luận án, nêu rõ những điểm chính được đề cập trong mỗi chương trong số năm chương. 8 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN NỢ XẤU NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về nợ xấu Các tổ chức Tài chính và Ngân hàng Quốc tế hiện đang sử dụng các định nghĩa riêng về nợ xấu cùng với các phương pháp và biểu hiện tương ứng trong thực tế ngày nay.
Một số phương pháp tiếp cận dựa trên các tiêu chí như thời gian nợ quá hạn và khả năng thanh toán của người vay. Ví dụ, từ năm 2002, Ngân hàng Thế giới đã xác định nợ xấu là các khoản nợ có mức độ rủi ro cao và khó thu hồi, đặc biệt là khi người vay phá sản hoặc tài sản không còn giá trị. Theo tiêu chí này, nợ được coi là dưới chuẩn nếu quá hạn từ 90 đến 180 ngày; và nợ nghi ngờ khi có khả năng không thu hồi được toàn bộ dựa trên điều khoản hợp lý, với thời gian quá hạn từ 180 đến 360 ngày. Có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau về khái niệm nợ xấu, dựa trên đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia và thái độ của các tổ chức khác nhau.
“Non-performing loan (NPL)”, “Bad debt” hoặc “Doubtful debt” là các cụm từ chỉ khái niệm chính được sử dụng trong nghiên cứu trước đây để mô tả các khoản nợ khó đòi (Forack, 2005). Akinlo và Emmanuel (2014) “Nợ khó đòi” dùng để chỉ các khoản cho vay không tạo ra lợi nhuận trong thời gian dài, hoặc các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và chưa thu hồi đầy đủ. Theo Rose (2004) nợ xấu là các khoản vay khi đã quá hạn trả nợ cả gốc lẫn lãi từ 90 ngày trở lên. Khi thảo luận về những khó khăn về nợ xấu, sau đây là một số ý tưởng hoặc tiêu chuẩn về nợ xấu thường được sử dụng.
BCBS (2002) lại không chỉ ra một thời gian quá hạn cụ thể cho khi nào một khoản vay được coi là “xấu”, mà coi một khoản nợ là không có khả năng trả được nếu đáp ứng một hoặc cả hai yêu cầu sau xảy ra: (1) ngân hàng phát hiện ra rằng người đi vay không thể trả nợ đầy đủ sau khi không thực hiện các biện pháp thu hồi nợ như quản lý tài sản thế chấp; (2) người vay đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày. Theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS), các ngân hàng đánh giá các khoản cho vay 9 là nợ bị suy giảm hơn là các khoản nợ khó đòi. Nói chung, IAS đánh giá cao khả năng hoàn trả khoản vay, cho dù khoản nợ đã quá hạn dưới 90 ngày hay không. Theo ECB, muốn kiểm định các khoản vay không hiệu quả khi : “Điều quan trọng cần lưu ý là "nợ xấu" đề cập đến các khoản nợ quá hạn quá hạn 90 ngày, bất kể vỡ nợ hay suy giảm giá trị, cũng như các khoản nợ không thể thu hồi hoặc yêu cầu bồi thường từ các cá nhân dựa trên Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) và Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) của Hoa Kỳ”.”Hoặc người thực hiện nghĩa vụ nợ đã đi hoặc đang lẩn trốn, không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ và không hoàn trả lại hết nợ cho ngân hàng (là khoản nợ không có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản để thanh toán đủ để trả khoản vay).
Theo quan điểm này, nợ xấu được xác định bởi hai yếu tố: (1) Là khoản vay không có khả năng hoàn trả. (2) Khoản vay không được thu hồi hoàn toàn. Do đó, việc giải thích nợ xấu của ECB phụ thuộc vào kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. Hơn nữa, quan điểm về nợ xấu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF được đưa ra như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ không được thực hiện đầy đủ” (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004).
Nợ xấu được nhận dạng bởi hai yếu tố, theo IMF: (1) Đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày (2) Khả năng trả nợ bị nghi ngờ. So với quan điểm của ECB, quan điểm của IMF về nợ xấu còn bổ sung thêm một góc nhìn khác về thành phần thời gian trễ hạn trả nợ, bên cạnh kết quả thu hồi nợ của ngân hàng. Đây là quan điểm được chấp nhận và được sủ dụng phổ biến trên thế giới. Cùng quan điểm với IMF, nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) đã thảo luận vấn 10 đề này trong dự thảo Nonperforming Loans Electronic Discussion Group và cho rằng: “Về cơ bản, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi đến hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khoản nợ sẽ thanh toán đầy đủ”.
Tại Việt Nam theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN ban hành ngày 30/7/2021 về hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải tuân theo các quy định về phân loại tài sản, mức trích lập, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để quản lý rủi ro, đã đưa ra thông tin chi tiết về khái niệm nợ xấu là "nợ xấu nội bảng gồm nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”. Theo tiêu chuẩn nghiên cứu của khóa luận này, tác giả mô tả nợ xấu như sau: Nợ xấu (hay còn gọi là nợ không đạt chuẩn) là những khoản nợ có thời gian quá hạn và gây ra sự nghi ngờ về khả năng thanh toán của người vay, như việc người vay không có khả năng hoàn trả đủ số tiền theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng. Phân loại nợ xấu Việc phân loại nợ bao gồm việc đánh giá mức độ rủi ro liên quan đến các khoản vay và cam kết ngoại bảng bằng cả tiêu chí định tính và định lượng, sau đó phân loại các khoản nợ thành các nhóm phù hợp dựa trên đánh giá này. Mục tiêu chính của việc phân loại nợ là giúp các ngân hàng giám sát hiệu quả chất lượng danh mục cho vay của mình và nếu cần thiết có thể thực hiện hành động kịp thời để ngăn chặn và giải quyết các vấn đề liên quan đến uy tín tín dụng của người đi vay trong danh mục cho vay của họ.
Do giữa các nước có sự lựa chọn và quy định khác biệt về việc phân loại nợ nên Ủy ban Basel đã đề xuất các hướng dẫn, nguyên tắc đểcó một tiêu chuẩn chung trong việc lập dự phòng và phân loại nợ trích, nhưng không cung cấp một quy tắc phân loại đặc thù hoặc phương pháp để đánh giá rủi ro tín dụng. Bholat (2016) đã đưa ra các cách tiếp cận khác nhau được các NH G20 sử dụng trong công tác phân loại nợ. Sự tương đồng giữa các quốc gia này là họ cho 11 rằng các ngân hàng và kiểm toán viên nên đưa ra đề xuất của mình về tính đầy đủ, thỏa đáng và nhất quán của việc phân loại nợ xấu, thay vì ràng buộc kiểm soát chi tiết và chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đó. Trong khi Hoa Kỳ và Đức có cách phân loại nợ được xác định rõ ràng thì các ngân hàng Anh và Hà Lan không bắt buộc phải tuân thủ các phân loại chi tiết mà thay vào đó có thể phân loại và đối chiếu dưới sự giám sát thường xuyên của ngân hàng.
Ý và Pháp đã thực hiện các yêu cầu tối thiểu về phân loại nợ xấu nhưng vẫn chưa có hướng dẫn toàn diện cho từng vấn đề cụ thể. Ở các quốc gia thuộc khu vực châu Á, đều có quy định phân loại khoản vay là nợ xấu khi nó rơi vào nhóm 4 hoặc 5, dẫn đến cách phân loại tương tự giữa các quốc gia. Ở Việt Nam, theo Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, nợ xấu được xác định trong các công cụ phân loại nợ, có vai trò quan trọng trong các tổ chức tín dụng vì chúng giúp xác định và quản lý nợ xấu, từ đó giảm thiểu rủi ro. Những công cụ này sử dụng phương pháp định lượng để chia nợ thành năm nhóm riêng biệt.
Các khoản nợ thuộc nhóm 3 đến nhóm 5 được xếp vào loại “nợ xấu của ngân hàng”. Việc phân loại nhóm nợ của Việt Nam tương đương với các nước khác như Mỹ, Singapore, Trung Quốc…. Việc phân loại các nhóm nợ này đóng vai trò là khuôn khổ chung để hiểu tầm quan trọng của chúng ở các quốc gia khác nhau. Nghiên cứu của tác giả cho rằng các NHTM ở Việt Nam nên tập trung vào việc phân loại nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để làm cơ sở tính nợ xấu.
Phân loại nợ tại Việt Nam “Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính Nợ“đủ tiêu Nợ trong hạn hoặc quá hạn dưới 10 Có khả năng thu hồi đầy đủ cả chuẩn ngày nợ gốc và lãi đúng hạn Nợ cần Quá hạn 10 – 90 ngày, nợ điều chỉnh Có thể thu hồi bao gồm cả gốc chú ý hạn trả nợ lần đầu lẫn lời, nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ 12 Nợ dưới Quá hạn 91 – 180 ngày, nợ gia hạn Không có khả năng thu hồi nợ tiêu chuẩn lần đầu, miễn hoặc giảm lãi gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất Nợ nghi Quá hạn 180 – 360 ngày, nợ cơ cấu Có khả năng tổn thất cao ngờ lại thời hạn trả nợ lần thứ hai Nợ có khả Nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ có cơ Không còn khả năng thu hồi, năng mất cấu lại thời hạn trả lần 1, 2 nhưng mất”vốn” vốn quá hạn nợ cơ cấu lần thứ 3 trở lên Nguồn: Tác giả trích từ Điều 10 thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước 2. Các chỉ tiêu đánh giá về nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = (Số dư nợ xấu/ Tổng dư nợ) x 100% Chỉ tiêu này dùng để đánh giá chất lượng cho vay của các ngân hàng. Tỷ lệ cho biết cứ 100 đồng mà ngân hàng cho vay thì có mấy đồng là nợ xấu, thể hiện mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng tại một thời điểm cụ thể.