CHƯƠNG 1 Trong chương này tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, những đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài. Những định hướng trên là tiền đề để tác giả nghiên cứu chi tiết hơn các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn được trình bày ở những chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. CÁC HIỆP ƯỚC BASEL VỀ HỆ SỐ AN TOÀN VỐN 2.
Basel I: Hiệp định vốn Basel An toàn vốn đã sớm trở thành trọng tâm hoạt động của Ủy ban với mục đích giám sát sự an toàn trong hoạt động của các ngân hàng quốc tế. Vào đầu những năm 1980, sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng nợ ở Mỹ Latinh đã làm tăng thêm mối lo ngại của các nhà chức trách rằng tỷ lệ vốn của các ngân hàng quốc tế lớn đang ngày càng tiêu cực trong bối cảnh rủi ro quốc tế gia tăng nghiêm trọng. Được sự ủng hộ của các thống đốc G10, một hệ thống đo lường vốn thường được gọi là hiệp định vốn Basel vào tháng 7 năm 1988 đã được phát hành rộng rãi ra công chúng và thường biết đến với cái tên là “Basel I”. Basel I kêu gọi thực hiện tỷ lệ vốn tính theo tài sản có trọng số rủi ro – RWA tối thiểu là 8% và bắt buộc các nước thành viên áp dụng vào cuối năm 1992.
Vào tháng 9 năm 1993, Ủy ban đã ban hành thông báo chính thức xác định rằng các yêu cầu tối thiểu đặt ra trong hiệp định đã được đáp ứng đầy đủ bởi hệ thống ngân hàng trong khối G10 có hoạt động kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, Basel I đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Một trong số đó là sự hạn chế trong việc phân cấp rủi ro tín dụng, được nêu cụ thể chỉ qua 4 loại trọng số (0%, 20%, 50% và 100%), dựa trên tỷ lệ vốn tối thiểu 8% và vốn yêu cầu được áp dụng ở mức như nhau bất kể thời hạn của khoản tín dụng. Thứ hai, khuôn khổ vốn này giả định một thị trường chung cho tất cả các quốc gia, điều này là không đúng với thực tế.
Cuối cùng, Basel I không xem xét đến rủi ro hoạt động, vốn dĩ phức tạp với mức độ đang ngày càng tăng cao (NHNN, 2010). Basel II: Khuôn khổ mới Nhằm khắc phục hạn chế của Basel I, Ủy ban Basel không ngừng tham khảo ý kiến của các cơ quan giám sát, đại diện ngành ngân hàng, ngân hàng trung ương và quan sát viên bên ngoài để xây dựng các yêu cầu về vốn nhạy cảm đáng kể với rủi ro 8 hơn. Sau gần sáu năm chuẩn bị kỹ càng, BCBS (2004) ban hành khuôn khổ vốn sửa đổi, thường được gọi là "Basel II", với ba trụ cột chính: yêu cầu về vốn tối thiểu, nhằm tìm cách phát triển và mở rộng các quy tắc tiêu chuẩn hóa được quy định cụ thể trong phiên bản trước đó; đánh giá giám sát về mức độ đáp ứng quy định vốn của TCTD và áp dụng quy trình xếp hạng nội bộ; sử dụng việc công bố thông tin minh bạch như một công cụ để tăng cường kỷ luật thị trường với mục đích khuyến khích các hoạt động ngân hàng đi theo hướng an toàn và bền vững. Trụ cột 1 xây dựng mức vốn bắt buộc dựa trên 3 rủi ro phổ biến mà ngân hàng dễ dàng gặp phải: rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và quan trọng nhất là rủi ro tín dụng.
Có thể thấy, Basel II đã khắc phục được lỗi phiến diện của phiên bản trước đó khi đưa ra thang đo cho rủi ro hoạt động với ba phương pháp tiếp cận: phương pháp chỉ báo cơ bản; phương pháp tiếp cận chuẩn hóa và phương pháp đo lường nâng cao (AMA). Tỷ lệ vốn bắt buộc là 8% không thay đổi, tuy nhiên, vốn cấp 1 phải chiếm ít nhất 4% tổng vốn. Tài sản tính theo rủi ro được thể hiện qua tích của yêu cầu vốn dành cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động với 12,5 (nghịch đảo của yêu cầu vốn tối thiểu 8%). Đối với rủi ro tín dụng, Basel II vẫn giữ nguyên công thức tính, tuy nhiên trọng số sẽ dao động trong mức từ 0% đến 150%.
Trụ cột 2 mang lại cho các nhà hoạch định những “công cụ” tốt hơn so với trước đó. Quy trình đánh giá giải quyết những vấn đề mà trụ cột 1 chưa thể nắm bắt đầy đủ như rủi ro tập trung tín dụng hoặc những yếu tố không được nêu ra ở trụ cột 1, chẳng hạn như rủi ro lãi suất, rủi ro kinh doanh, rủi ro chiến lược và các yếu tố vĩ mô như hiệu ứng của chu kỳ kinh doanh. Ủy ban cũng đưa ra hướng dẫn về các nguyên tắc rà soát giám sát, quản lý rủi ro, tính minh bạch và trách nhiệm của ngân hàng trong xử lý rủi ro sổ sách. Trụ cột cuối cùng thiết lập các yêu cầu công bố thông tin về các loại rủi ro khác nhau của ngân hàng, yêu cầu an toàn vốn và quy trình đánh giá rủi ro, gắn với kỷ luật thị trường.
Mục đích chính của trụ cột là thúc đẩy tính minh bạch cao trong công tác thông báo thông tin của ngân hàng và cho phép nhà đầu tư có cái nhìn bao quát để có thể so sánh các ngân hàng khác nhau trên cơ sở bình đẳng. Basel III: Ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính 2008 Việc củng cố khuôn khổ Basel II đã trở nên cấp thiết ngay cả trước khi Lehman Brothers – ngân hàng đầu tư lớn thứ tư nước Mỹ, sụp đổ vào tháng 9 năm 2008. Ngành ngân hàng bước vào cuộc khủng hoảng tài chính với đòn bẩy quá cao và tính thanh khoản kém. Những yếu tố bất ổn này đi kèm với các cơ cấu động lực không phù hợp và hoạt động quản trị rủi ro yếu kém.
Sự kết hợp nguy hiểm của các yếu tố này được thể hiện qua quy trình định giá sai rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng như tăng trưởng tín dụng nóng. Vào tháng 9 năm 2010, GHOS đã công bố cho các ngân hàng thương mại toàn cầu tiêu chuẩn vốn tối thiểu cao hơn. Đây là kết quả tất yếu của thỏa thuận đạt được vào tháng 7 liên quan đến thiết lập tiêu chuẩn cải cách vốn và thanh khoản, được gọi là “Basel III". Vào tháng 11 cùng năm, các tiêu chuẩn mới này được phê duyệt trong Hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo G20 tại Seoul (Hàn Quốc) và sau đó được nhất trí tại cuộc họp của Ủy ban Basel cuối năm 2010.
Phiên bản tháng 12 năm 2010 được trình bày trong tài liệu “Basel III: Khung quốc tế về đo lường, tiêu chuẩn và giám sát rủi ro thanh khoản” và “Basel III: Khung pháp lý toàn cầu cho các ngân hàng và hệ thống ngân hàng linh hoạt hơn”. Khung vốn mới chỉnh sửa và cải thiện ba trụ cột do Basel II thiết lập đồng thời mở rộng chúng trong một số lĩnh vực. Các cải cách lần lượt được tiến hành theo từng giai đoạn trải dài từ năm 2013 đến năm 2019. Đầu tiên, yêu cầu chặt chẽ hơn về chất lượng và số lượng vốn pháp định, đặc biệt củng cố vai trò trung tâm của cổ phần phổ thông, thông qua yêu cầu vốn cấp 1 được nâng lên từ 4% lên 6%, mà trong đó ¾ là vốn chủ sở hữu phổ thông (CET1) bao gồm cổ phiếu phổ thông, lợi nhuận giữ lại và thu nhập tích lũy.
Thứ hai, bổ sung một lớp vốn chủ sở hữu – hay còn gọi là lớp đệm bảo toàn vốn, trong trường hợp ngân hàng thiếu thanh khoản nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu, cụ thể khoản dự trữ này dao động từ 0% đến 2,5% trên tài sản có rủi ro. Thứ ba, một vùng đệm vốn nghịch chu kỳ, đặt ra những hạn chế đối với sự “dấn thân” của các ngân hàng vào giai đoạn bùng nổ tín dụng với mục đích giảm tổn thất của họ trong các vụ vỡ nợ, phải đảm bảo 2,5% RWA trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh. Thứ 10 tư, tỷ lệ đòn bẩy, được đo lường thông qua tỷ lệ vốn cấp 1 trên giá trị rủi ro (Exposure) – là tổng mức rủi ro của toàn bộ tài sản trên bảng cân đối kế toán, rủi ro phái sinh, giao dịch cấp vốn chứng khoán (SFT) và hệ số chuyển đổi tín dụng cho các khoản mục ngoại bảng với quy định tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu là 3%. Thứ năm, yêu cầu tỷ lệ thanh khoản tối thiểu, tỷ lệ đảm bảo thanh khoản (LCR), nhằm cung cấp tiền mặt để đáp ứng đầy đủ nhu cầu rút tiền trong khoảng thời gian căng thẳng kéo dài 30 ngày và chỉ số dài hạn hơn là tỷ lệ quỹ bình ổn ròng (NSFR) phải đạt ít nhất là 100%, nhằm giải quyết sự chênh lệch về thời gian đáo hạn trên toàn bộ bảng cân đối kế toán.
Thứ sáu, trong trường hợp các ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs), yêu cầu bổ sung về năng lực chống chịu trước tổn thất và tăng cường giám sát xuyên quốc gia. So sánh ba khuôn khổ vốn Cả ba khuôn khổ Basel đều nhấn mạnh yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu là 8% trên tài sản có trọng số rủi ro, sự khác biệt được thể hiện qua các phương pháp tính toán và các trụ cột được phát triển thêm để đảm bảo độ tin cậy.1 là kết quả tổng hợp những điểm khác nhau của ba khuôn khổ vốn: Bảng 2.