Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng. Chương 2: Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam. Chương 3: Thảo luận kết quả nghiên cứu & một số khuyến nghị đề xuất về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN & TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ, HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI TRONG NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ Theo COSO, “Kiểm soát nội bộ là quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị (HĐQT) và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu dưới đây: - Đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính; - Đảm bảo sự tuân thủ các quy định và pháp luật; - Đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả. KSNB bao gồm 5 thành phần: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát.” “Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315, ban hành theo thông tư số 214/2012-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2014: Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan.” Kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ cùng có chung mục đích, đều được xây dựng thiết lập bởi con người nhưng chúng có những điểm khác nhau. Kiểm soát nội bộ tập trung đi vào kiểm soát những chính sách, thủ tục, nguyên tắc, quy định có tính hệ thống được thừa nhận rộng rãi, phổ biến và bao trùm. Kiểm soát nội bộ thường quan tâm đến mục tiêu kiểm soát hơn là các hành vi cụ thể.
Còn hệ thống kiểm soát nội bộ là những chính sách, thủ tục, các bước kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị. 6 Có rất nhiều quan điểm về hệ thống kiểm soát nội bộ khác nhau tùy theo yêu cầu và góc độ nhìn nhận. Tuy nhiên, quan điểm chung được công nhận rộng rãi nhất thì quan điểm dưới đây được thừa nhận rộng rãi nhất: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và được tổ chức thực hiện nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời với rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Hệ thống kiểm soát nội bộ thực hiện giám sát quản lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về an toàn vốn và kiểm toán nội bộ.
Vai trò, mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Vai trò, sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ Qua khái niệm nêu trên về hệ thống kiểm soát nội bộ ta có thể nhận thấy chức năng của hệ thống kiểm soát nội bộ là đảm bảo hiệu quả trong hoạt động và hiệu suất quản lý. Thông qua hệ thống kiểm soát nội bộ, các kế hoạch, mục tiêu đề ra và việc sử dụng các yếu tố nguồn lực luôn được giám sát một cách chặt chẽ từ lúc ý tưởng đến thực hiện. Việc kiểm tra, kiểm soát định kỳ giúp kịp thời xử lý các vấn đề nảy sinh và tận dụng được tối đa nguồn lực mà lại đạt được kết quả tối ưu đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của đơn vị.
Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ là công cụ của ban lãnh đạo nhằm giúp đạt được mục tiêu đề ra của mình. Việc đưa ra những quyết định sáng suốt một phần là nhờ những thông tin đáng tin cậy mà hệ thống kiểm soát nội bộ cung cấp thông qua: 7 Một là, bảo vệ, quản lý và sử dụng tài sản nhằm giảm bớt các tổn thất có thể xảy ra. Tùy vào mức độ rủi ro của từng loại tài sản mà có các thủ tục kiểm soát phù hợp. Hai là, giúp ban lãnh đạo có những quyết định đúng đắn thông qua việc cung cấp các thông tin tài chính lẫn phi tài chính một cách đáng tin cậy và trung thực.
Ba là, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý, tuân thủ pháp luật và các quy định, quy trình nội bộ và hoạt động, đồng thời tuân thủ các chuẩn mực đạo đức do đơn vị đặt ra. Cuối cùng là đảm bảo hiệu quả trong hoạt động và năng lực quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ giúp đánh giá rà soát tính hiệu quả, hiệu năng của mọi hoạt động: Năng suất làm việc, các thủ tục tốn kém phức tạp không cần thiết, tài sản sử dụng lãng phí. Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ - Có sự thông đồng, cấu kết của con người, hệ thống kiểm soát nội bộ khó mà tính hết được, ví dụ như việc thông đồng của nội bộ của nhân viên với nhau hay với bên ngoài tổ chức. - Chi phí được chi cho hệ thống kiểm soát nội bộ thường bị hạn chế, ban lãnh đạo đôi khi cho rằng thấy quá tốn kém nên đôi khi muốn hạn chế những hạng mục mà chưa thấy rủi ro.
- Sai sót bởi con người do sự thiếu cẩn, hoặc chưa nắm rõ yêu cầu của công việc.trọng - Công tác kiểm soát nội bộ thông thường chỉ chú ý đến những nghiệp vụ thường xuyên, lặp đi lặp lại, mà đôi khi bỏ quên những nghiệp vụ bất thường. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ được nghiên cứu trên nền tảng 5 yếu tố, cụ thể là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông và hoạt động giám sát Môi trƣờng kiểm soát: Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, quy trình và cấu trúc cung cấp cơ sở để thực hiện việc kiểm soát nội bộ trong toàn tổ chức. Hội đồng quản trị và quản lý cấp cao thiết lập giai điệu ở đầu về mức độ quan trọng của kiểm soát nội bộ bao gồm tất cả tiêu chuẩn ứng xử dự kiến. Quản lý củng cố kỳ vọng ở các cấp độ khác nhau của tổ chức.
Môi trường kiểm soát bao gồm tính toàn vẹn và giá trị đạo đức của tổ chức; các thông số cho phép Ban Giám đốc thực hiện trách nhiệm giám sát quản trị của mình; cơ cấu tổ chức và phân công thẩm quyền và trách nhiệm; quá trình thu hút, phát triển và giữ chân những cá nhân có thẩm quyền; và sự nghiêm ngặt xung quanh các biện pháp thực hiện, khuyến khích và phần thưởng để thúc đẩy trách nhiệm đối với hiệu suất. Kết quả cho thấy môi trường kiểm soát có tác động lớn đến toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát được xem xét đánh giá qua các nhân tố sau: - Đặc thù về quản lý: Các nhà quản lý cấp cao nhất sẽ phê duyệt các quy định, chính sách và thủ tục kiểm soát theo quan điểm điều hành của mình. - Cơ cấu tổ chức: thiết lập hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quy định và triển khải các quyết định đó cũng như giám sát, kiểm tra việc thực hiện các quyết định đó.
- Chính sách nhân sự và cam kết về năng lực: tuyển dụng, định hướng, đào tạo, nhận xét, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, bồi thường và các chính sách đền bù. Đảm bảo nhân viên luôn làm được việc, có những khóa đào tạo 9 thêm nghiệp vụ, đồng thời có các chế độ thi đua thưởng phạt nhằm khích lệ nhân viên phát triển. - Ủy bản kiểm soát là những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất nhưng không kiểm nhiệm các chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát, thường có quyền hạn và nhiệm vụ giám sát việc chấp hành luật pháp, giám sát và kiểm tra công việc của kiểm soát nội bộ. - Công tác kế hoạch: thông qua những chỉ đạo, hướng dẫn của Ban giám đốc để đưa ra các kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế giúp việc thực hiện được khoa học và nghiêm túc, cũng chính là công cụ kiểm soát hữu hiệu.
Trong quá trình thực hiện, ban quản lý luôn theo dõi, phân tích các yếu tố để có thể phát hiện kịp thời những điều bất thường, không hợp lý để kịp thời đưa ra điều chỉnh và cách xử lý. - Môi trường bên ngoài: bao gồm pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và công nghệ. Cái này nằm ngoài hệ thống kiểm soát của ban lãnh đạo. Nhưng nó có ảnh hưởng đến việc điều hành của các nhà quản lý.
Hệ thống pháp luật giúp đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh. Môi trường văn hóa định hướng quan hệ đạo đức, lối sống và cách làm việc. Đánh giá rủi ro: Mỗi thực thể phải đối mặt với một loạt các rủi ro từ các nguồn bên ngoài và bên trong. Rủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra và ảnh hưởng xấu đến việc đạt được các mục tiêu.
Đánh giá rủi ro bao gồm một quá trình không ngừng thay đổi và lặp đi lặp lại để xác định và đánh giá rủi ro trong lộ trình để đạt được các mục tiêu. Những rủi ro đối trong quá trình đạt được các mục tiêu này với các yếu tố liên quan phải được đánh giá trong mức độ cho phép. Do đó, đánh giá rủi ro là cơ sở để xác định mức độ rủi ro chấp nhận được để có kết quả mong muốn. 10 Một điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi ro là việc thiết lập các mục tiêu, được liên kết ở các cấp độ khác nhau của thực thể.
Quản lý chỉ định các mục tiêu trong các danh mục liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ đủ rõ ràng để có thể xác định và phân tích rủi ro cho các mục tiêu đó. Quản lý cũng xem xét sự phù hợp của các mục tiêu cho thực thể.