Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn và hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam - chi nhánh Đồng Nai. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam chi nhánh Đồng Nai. 1 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH NHTM 1. NHTM và nguồn vốn của chi nhánh NHTM NHTM tại khoản 3, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) [16] hiện hành của Việt Nam được định nghĩa như sau: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. NHTM luôn được xem là loại hình ngân hàng quan trọng nhất trong các ngân hàng trung gian. Trong đó, “Hoạt động NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” (Theo: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại - TS.Nguyễn Minh Kiều).
Nguồn vốn của chi nhánh NHTM gồm: Vốn điều chuyển từ trụ sở chính: Ngày nay các NHTM được tổ chức theo mô hình gồm ngân hàng mẹ và các hệ thống các chi nhánh trực thuộc. Có một phương thức huy động vốn hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hoà. Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa bàn là khác nhau (do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do phong tục tập quán…) nên những chi nhánh mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên ngân hàng mẹ và xin được nhận được một lượng vốn điều hoà cần thiết cho hoạt động của mình. Nguồn vốn huy động: Ở nước ta, đây là nguồn vốn chủ yếu để các NHTM hoạt động kinh doanh.
NHTM huy động nguồn vốn này dưới hình thức sau: 2 Vốn từ huy động tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân và tổ chức kinh tế. Vốn đi vay của các đơn vị, tổ chức tài chính – tín dụng. Vốn từ phát hành giấy tờ có giá. Vốn huy động khác: từ hoạt động dịch vụ ủy thác, chẳng hạn thu tiền điện, thu thuế Ngân sách nhà nước hoặc tiền gửi từ các hoạt động tài trợ… NHTM sử dụng các nguồn vốn này để phục vụ mục đích kinh doanh của mình.
Lãi suất huy động tùy theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường vốn. Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn của NHTM 1. Đối với nền kinh tế Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn mà hệ thống ngân hàng tập trung hầu hết các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của xã hội, chuyển chúng từ phương tiện tích lũy thành nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế xã hội.
Đây là nguồn vốn quan trọng để đầu tư phát triển nền kinh tế vì nó không những lớn về số tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyển” không ngừng của nó. Đặc biệt mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng điểm xuất phát thấp, ngân sách còn hạn hẹp, tích lũy thấp, do đó, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế phải trông đợi vào nhiều nguồn, trong đó, nguồn từ các ngân hàng huy động được là rất quan trọng. Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để sử dụng cho đầu tư phát triển, nghiệp vụ huy động vốn của NHTM giúp Ngân hàng Trung ương (NHTW) kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ. Chẳng hạn, muốn thu hút bớt lượng tiền trong lưu thông, NHTW tăng lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khống chế dư nợ tín dụng, và ngược lại.
Đối với NHTM Hoạt động huy động vốn mang lại nguồn vốn cho NHTM thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh: tín dụng, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ, phát triển khoa học 3 công nghệ ngân hàng. Phần lớn vốn huy động bắt nguồn từ các hoạt động huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, cá nhân cũng như từ việc vay mượn các nhà đầu tư trên các thị trường tài chính. Nếu không có nghiệp vụ này thì NHTM sẽ không đủ vốn tài trợ cho hoạt động của mình bởi vì khi một NHTM được cấp giấy phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định, nhưng số vốn điều lệ chỉ đủ tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt động chứ chưa đủ để NHTM có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Chính nguồn vốn này, chứ không phải nguồn vốn sở hữu tạo nguồn lực tài chính chủ yếu cho các hoạt động, thường là khoản chi phí lớn nhất đối với ngân hàng.
Bên cạnh đó, thông qua nghiệp vụ này, NHTM có thể đo lường được sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, qua đó có những giải pháp không ngừng đẩy mạnh hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng. Chính nghiệp vụ huy động vốn góp phần giải quyết đầu vào của ngân hàng. Đối với khách hàng Đối với khách hàng là người gửi tiền, hoạt động huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh đầu tư, làm cho tiền của họ sinh lợi bằng cách gửi vào ngân hàng, được hưởng lãi, từ đó tạo điều kiện cho họ tăng khả năng tiêu dùng trong tương lai. Qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ vốn nhàn rỗi, đồng thời giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận các dịch vụ, đặc biệt dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng khi họ cần vốn cho sản xuất hoặc cho tiêu dùng và dịch vụ ủy thác thu hộ, chi hộ giúp họ tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển, nhân lực và vật lực.
Đối với khách hàng là người vay, thông qua việc huy động mà NHTM tạo ra nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu khách hàng vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng. Hình thức huy động vốn cơ bản 1. Nhận tiền gửi 4 Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn tiền của ngân hàng. Khi ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó, ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, tổ chức và dân cư.
Để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau. Các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng thông qua việc mở tài khoản để được ngân hàng cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài vụ một cách nhanh chóng và an toàn. Mọi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng đưa ra đều có đặc điểm riêng để chúng phù hợp hơn với nhu cầu khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các ngân hàng bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác.
Tiền gửi của dân cư: Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và dễ thanh toán. Vốn huy động từ khách hàng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động. Tiền gửi của dân cư bao gồm 2 loại: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn với các khoảng thời gian khác nhau.
Với loại tiền gửi này, người gửi được ngân hàng giao cho một cuốn sổ tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền, sổ tiết kiệm có thể được dùng làm vật cầm cố hoặc chiết khấu để vay vốn ngân hàng. Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn như các kì hạn khác nhau, mở cho mỗi người nhiều trương mục tiết kiệm 5 (hoặc sổ tiết kiệm) cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi khác nhau.
Sổ tiết kiệm không thể dùng để mua hàng nhưng có thể dùng để thế chấp vay vốn nếu ngân hàng đồng ý. Tiền gửi thanh toán: Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phép thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Họ mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng các nhu cầu thanh toán cũng như để sử dụng các tiện ích khác của ngân hàng. Giống như tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm (kể cả không kỳ hạn và có kỳ hạn) và tiền gửi thanh toán của dân cư tạo nên nguồn vốn hoạt động của NHTM.
Trên thực tế, tiền gửi của dân cư chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng. Để khai thác nguồn vốn này, các ngân hàng luôn chú trọng đến việc đa dạng hoá các hình thức huy động như: huy động bằng vàng, huy động tiền gửi có đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm xây dựng nhà ở, các hình thức tiết kiệm linh hoạt khác với lãi suất hợp lý. Tiền gửi của tổ chức kinh tế: Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một phần vốn nhàn rỗi tạm thời như: khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử dụng; tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương; các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến.