CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI DÂN CƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý của huy động TGDC tại Agribank và các chi nhánh như sau: * Các văn bản của Nhà nước - Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của NHNN ngày 31/12/2018 về Quy định tiền gửi tiết kiệm. - Thông tư số 49/2018/TT-NHNN của NHNN ngày 31/12/2018 về Quy định tiền gửi có kỳ hạn. - Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010.
- Luật số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng. - Nghị định số 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền. * Các văn bản của Agribank - Quyết định số 123/QĐ/HĐQT-KHTH ngày 21/2/2008 của Agribank ban hành quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống Agribank. - Quyết định số 124/QĐ/HĐQT-KHTH ngày 21/2/2008 của Agribank ban hành quy định về phát hành giấy tờ có giá của Agribank để HĐV trong cả nước.
- Quyết định số 1122/QĐ/HĐQT-KHTH ngày 25/7/2011 của Agribank ban hành quy định về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi trong hệ thống Agribank thay thế QĐ số 261/QĐ/HĐQT-KHTH ngày 19/02/2008. - Quyết định số 1716/QĐ-NHNo-NCPT ngày 23/11/2015 của Tổng giám đốc Agribank ban hành Quy định về sản phẩm tiết kiệm linh hoạt. Cơ sở khoa học 1. Huy động tiền gửi dân cư của Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm “Huy động tiền gửi là nghiệp vụ cơ bản của NHTM. Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, hoạt động huy động tiền gửi có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập nguồn vốn thường xuyên để ngân hàng thực hiện các HĐKD khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Huy động tiền gửi của NHTM là quá trình ngân hàng sử dụng các công cụ, phương thức và biện pháp hợp pháp để động viên các nguồn tài chính trong xã hội với trách nhiệm hoàn trả theo thoả thuận, làm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng, đầu tư của nền kinh tế” [15]. Dân cư là đối tượng huy động tiền gửi của NHTM.
“Trong phạm vi chuyên đề này, dân cư được đề cập đến là đối tượng huy động tiền gửi của NHTM. Dân cư với tư cách là chủ thể của những nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi và NHTM với vai trò là trung gian tài chính có quan hệ với dân cư như là người đi vay và người cho vay. Vậy, huy động TGDC là quá trình các NHTM tìm đến nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư bằng nhiều cách thức khác nhau với cam kết nắm giữ an toàn và hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn” [15]. Đặc điểm huy động tiền gửi dân cư Đặc điểm huy động TGDC của NHTM bao gồm những điểm sau: - Vốn huy động từ dân cư rất nhỏ lẻ “Huy động TGDC rất được các NHTM chú trọng vì đây là kênh huy động giúp cho nguồn vốn của ngân hàng được ổn định, vì mỗi cá nhân gửi với một lượng tiền chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM.
Vì vậy việc một cá nhân, hay một số cá nhân rút tiền thì nguồn vốn của NHTM không bị thay đổi nhiều” [4]. Việc HĐV từ mỗi cá nhân là rất nhỏ và tốn nhiều thời gian công sức để có thể huy động được nguồn vốn này, tuy nhiên, với việc huy động từ nhiều cá nhân khác nhau, nguồn vốn này được tích tụ tập 6 trung lại trở thành một nguồn vốn rất lớn, để bổ sung vào nguồn vốn phục vụ cho mục đích kinh doanh của các ngân hàng. - Chi phí huy động tiền gửi dân cư cao Do việc huy động vốn từ dân cư rất nhỏ lẻ, từ rất nhiều các cá nhân khác nhau, vì vậy tốn rất nhiều thời gian công sức, cũng như chi phí để có thể huy động được nguồn vốn lớn. Chi phí HĐV dân cư bao gồm lãi suất của khoản tiền gửi và các chi phí ngoài lãi suất.
Chi phí lãi suất là khoản tiền gửi mà ngân hàng phải trả cho khách hàng theo như thỏa thuận (thông thường được ghi vào sổ tiết kiệm hoặc các chứng từ ngân hàng). Chi phí ngoài lãi rất đa dạng bao gồm nhiều chi phí khác chi cho người gửi tiền như: hoa hồng, quà tặng, các tiện ích khác… Ngân hàng thương mại thường phải trả lãi suất cho tiền gửi của dân cư, và mức lãi suất này thường cao hơn so với việc huy động vốn từ các TCKT hoặc doanh nghiệp. Điều này có thể tạo áp lực tài chính đối với NHTM để duy trì lãi suất cạnh tranh trong việc cho vay và đồng thời tối ưu hóa lợi nhuận. - Tiềm năng huy động vốn dân cư lớn Dân cư đóng góp vào huy động tiền gửi thông qua nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau, bao gồm tài khoản thanh toán, tiết kiệm, tiền gửi tự do, và thẻ tín dụng.
Điều này tạo điều kiện cho NHTM để phù hợp với nhu cầu và ưu tiên tài chính của từng khách hàng cụ thể. Do tâm lý của người dân luôn muốn khoản tiền chưa sử dụng đến của mình được an toàn và sinh lời, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tương lai. Trong nền kinh tế hiện nay, người dân có thể sử dụng nguồn tiền chưa sử dụng đến của mình bằng rất nhiều cách vừa đảm bảo an toàn để sinh lời như đầu tư mua vàng, cổ phiếu, gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Tuy nhiên, việc đầu tư và vàng, cổ phiếu không phải người dân nào cũng có thể làm được, bên cạnh đó còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, như rủi ro từ phía công ty, rủi ro thị trường… Vì vậy, gửi tiền vào ngân hàng được xem như một công cụ đầu tư an toàn, hiệu quả và được đại đa số người dân lựa chọn.
Chính vì vậy, tiềm năng HĐV từ dân cư rất lớn so với nguồn khác, 7 thông thường nguồn này chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Ngoài ra, TGDC còn một số đặc điểm như sau: + Các khoản tiền gửi huy động từ dân cư có tính ổn định cao và thường xuyên do số lượng khách hàng vô cùng lớn nên luôn có sự bù trừ giữa gửi và rút tiền. Nguồn vốn này ít có biến động lớn trừ khi có những biến động rất lớn trong nền kinh tế. + Dân cư thường đầu tư tiền vào các sản phẩm tiền gửi với kỳ hạn dài hơn, chẳng hạn như tiết kiệm hoặc tài khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Điều này cung cấp cho NHTM một nguồn cung cấp vốn ổn định và có thời gian để sử dụng vốn này cho việc cho vay và đầu tư dài hạn. + Các khoản tiền gửi huy động của dân cư thường có quy mô nhỏ, nhưng số lượng khách hàng lại rất lớn. Vì vậy, nên tổng quy mô nguồn vốn huy động từ dân cư của các NHTM là rất lớn, qua đó chi phí vốn huy động tiền gửi của dân cư chiếm vai trò vô cùng quan trọng để ngân hàng quyết định chi phí cho vay của mình. + Các khoản tiền gửi từ dân cư rất nhạy cảm với những biến động của lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ tiêu dùng, đặc biệt là các khoản tiền gửi ngắn hạn.
Vì thế, các NHTM phải luôn có các nguồn vốn dự phòng đáp ứng khả năng thanh khoản khi có biến động xảy ra. + Các khoản tiền gửi của dân cư cũng có đặc điểm chung là phải thanh toán cho khách hàng ngay khi có yêu cầu dù là tiền gửi có kỳ hạn hay không kỳ hạn. Đặc biệt các khoản tiền gửi ngắn hạn rất nhạy cảm với các yếu tố thị trường, sự thay đổi của nó sẽ ảnh hưởng lớn tới khả năng thanh khoản của các NHTM. Tóm lại, việc huy động tiền gửi từ dân cư có những đặc điểm riêng biệt như tính ổn định, đa dạng, thời gian dài hạn, nhưng cũng đi kèm với chi phí huy động cao.
Ngân hàng thương mại cần phải quản lý và tận dụng tối ưu nguồn vốn từ dân cư để đảm bảo HĐKD hiệu quả. Vai trò của huy động tiền gửi dân cư - Đối với nền kinh tế Cung cấp nguồn cung cấp vốn: Tiền gửi từ dân cư là một nguồn cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế. Nó được sử dụng để cung cấp vốn cho vay cho các doanh nghiệp, dự án và cá nhân. Điều này thúc đẩy sự phát triển kinh tế bằng cách tạo điều kiện cho đầu tư và mở rộng kinh doanh.
Ổn định hệ thống tài chính: Tiền gửi từ dân cư giúp tạo sự ổn định trong hệ thống tài chính bằng cách cung cấp nguồn vốn ổn định. Điều này giúp ngăn chặn sự biến động quá mức và giảm nguy cơ khủng hoảng tài chính. Tạo hiệu ứng lan tỏa: Khi tiền gửi từ dân cư được cho vay và đầu tư, nó tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế. Tiền này được sử dụng để tạo ra giá trị, thuê người lao động, và tạo ra thuế, tất cả đều đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế.
- Đối với ngân hàng thương mại Nguồn cung cấp vốn: Tiền gửi từ dân cư là một nguồn cung cấp vốn ổn định cho NHTM. Điều này cho phép ngân hàng thực hiện các hoạt động cho vay và đầu tư, tạo thu nhập từ lãi suất và phí dịch vụ. Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, nguồn vốn huy động tiền gửi từ dân cư chiếm một tỉ trọng lớn, góp phần cung cấp nguồn lực đầu vào của ngân hàng, qua đó ngân hàng có thể thực hiện các HĐKD của mình nhằm mục đích sinh lợi nhuận. Lợi nhuận: Ngân hàng thương mại thu lợi nhuận từ việc huy động tiền gửi và cho vay chúng.
Sự chênh lệch giữa lãi suất thu và trả giữa tiền gửi và khoản vay là nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng. Đa dạng hóa: Tiền gửi từ dân cư cho phép NHTM đa dạng hóa nguồn vốn và rủi ro. Điều này giúp ngân hàng quản lý rủi ro tốt hơn và thực hiện các HĐKD hiệu quả hơn. Dựa vào quy mô vốn huy động tiền gửi từ dân cư ngân hàng có thể đánh giá được sự tín nhiệm của khách hàng đối với mình.
Qua đó, nâng cao 9 chất lượng các gói sản phẩm dịch vụ của mình; cũng như hoàn thiện hơn nữa chính sách chăm sóc khách hàng nhằm nâng cao hình ảnh của mình nhằm giữ chân khách hàng cũ, đồng thời thu hút thêm khách hàng mới.