Chương 1. Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, tổng quan lĩnh vực nghiên cứu, và kết cấu của luận văn được trình bày trong các chương tiếp theo. Trình bày cơ sở khoa học của đề tài. Thông qua hệ thống hóa cơ sở lý luận về khái niệm NLCT, các tiêu chí đánh giá NLCT, yếu tố ảnh hưởng đến NLCT, hướng tiếp cạnh NLCT trên thế giới cũng như những bài học kinh nghiệm của các ngân hàng trên thế giới.
Đánh giá thực trạng NLCT của Agribank bao gồm giới thiệu tổng quan về Agribank, phân tích thực trạng NLCT của Agribank và đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân. Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao NLCT của Agribank. 13 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều định nghĩa về NHTM: Ở Mỹ “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính” (Micheal Porter 1990). Đạo luật ngân hàng Pháp (1941) cũng định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức là ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, định nghĩa Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ, với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận (Luật tổ chức tín dụng, 2010). Từ những nhân định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với các nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả 14 thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Năm 1988, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, Năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Theo Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), thì NLCT là “khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới”. Dưới góc độ vĩ mô, Micheal Porter (1990), Giáo sư nổi tiếng về chiến lược cạnh tranh của Đại học Harvard (Hoa kỳ) lại cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”.
Diễn đàn kinh tế thế giới WEF lại cho rằng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá và chất lượng hơn so với đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước để thiết kế sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Như vậy, có thể đúc kết lại rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, sử dụng hợp lý thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường. Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn so với các đối thủ về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến lược. Năng lực cạnh tranh cũng thể hiện thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mà sự sáng tạo sản phẩm là những khía cạnh rất quan trọng của quá trình cạnh tranh.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Có nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM, có thể phát biểu như sau: Theo tác phẩm “Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thuế hội nhập” cho rằng: “NLCT của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuân cao hơn mức trung bình ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” (Nguyễn Thị Quy, 2005).
Khái niệm này đã đề cập đến năng lực nội tại của một ngân hàng thương mại và mối quan hệ của nó với sự phát triển ngành ngân hàng trên cơ sở tận dụng được lợi thế của mình nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn. Mặt khác khái niệm trên cũng thể hiện sự linh hoạt trong chiến lược cạnh tranh của NHTM khi thích nghi và tận dụng những thay đổi của môi trường kinh doanh. Theo Đỗ Thị Minh Đức (2012) “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM khác”. Theo Nguyễn Văn Thụy (2013) “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng sử dụng, phối hợp các nguồn lực, khả năng duy trì và tạo ra lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra trong môi trường kinh doanh thay đổi”.
Theo Trương Đình Tuyển (2009) “NLCT của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Như vậy cũng giống như các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn hướng tới việc dành lấy những yếu tố thuận lợi nhất trong quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị phần để tối ưu hóa lợi nhuận kiếm được. Về cơ bản, năng lực cạnh tranh của NHTM cũng được hiểu như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, có nghĩa năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng duy trì và nâng cao các ưu thế của ngân hàng so với NHTM và tổ chức tài chính khác 16 trong cung ứng dịch vụ ngân hàng phù hợp với môi trường nhằm gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần, phát triển bền vững. Tuy nhiên, do hoạt động của NHTM là loại hình kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính nên tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của NHTM có sự khác biệt.2 Đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Các NHTM trong hoạt động kinh doanh của mình, luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với đối thủ với mục tiêu là giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng và cung ứng dịch vụ.
Do ngành nghề kinh doanh khá đặc thù, nên cạnh tranh giữa các NHTM cũng có những nét đặc trưng rất riêng biệt. Có thể nhận thấy là: Thứ nhất, cạnh tranh và hợp tác xen lẫn nhau để hướng đến một thị trường lành mạnh: các NHTM thường giao dịch với nhau thông qua các khoản tiền gửi ngắn hạn hoặc tài khoản vãng lai thanh toán để đáp ứng các yêu cầu kinh doanh. Vì thế, nếu như có một NHTM trong quá trình kinh doanh gặp khó khăn và đối mặt với nguy cơ phá sản, sẽ tác động dây chuyền đến cả hệ thống các NHTM, thậm chí còn ảnh hưởng đến cả các tổ chức phi tài chính; lẽ dĩ nhiên, không một NHTM nào muốn điều đó xảy ra. Do đó, các NHTM một mặt luôn luôn cạnh tranh gay gắt với nhau để giành giật khách hàng, giành giật thị phần; mặt khác lại luôn phải hợp tác với nhau, cùng nhau tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn để tránh rủi ro hệ thống.
Thứ hai, cạnh tranh được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của ngân hàng trung ương: hoạt động của các NHTM ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, sự mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh của các NHTM sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ hệ thống, kéo theo hệ lụy là gây thiệt hại nặng nề cho cả nền kinh tế quốc gia. Bởi vậy, ngân hàng trung ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) sẽ giám sát hết sức chặt chẽ hoạt động của các NHTM trên thị trường và liên tục có những cảnh báo khi có dấu hiệu của những diễn biến bất lợi để phòng ngừa rủi ro.