Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CAMELS 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại - Theo luật các tổ chức tín dụng Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM thì ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. - Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính xác nào về hiệu quả hoạt động của NHTM. Có thể hiểu một cách khái quát, hiệu quả hoạt động của NHTM là khả năng thu được lợi nhuận tối đa tại mức chi phí hợp lý thấp nhất.
Đây cũng chính là mục đích hoạt động chung của hầu hết các doanh nghiệp. - Tái cơ cấu ngân hàng theo World Bank (1998) bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ về cả cơ cấu tổ chức lẫn tình hình tài chính nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Theo đó, NHNN VN đã đưa ra bốn quan điểm và nguyên tắc cơ bản đối với quá trình tái cơ cấu: Thứ nhất, phát triển một hệ thống ngân hàng đa dạng về sở hữu, quy mô và loại hình nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế về dịch vụ ngân hàng từ thành thị đến nông thôn. Thứ hai, quá trình tái cơ cấu phải đảm bảo nâng cao tính an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, việc sáp nhập, hợp nhất ngân hàng trong quá trình tái cơ cấu sẽ được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và các quyền, nghĩa vụ kinh tế của các bên có liên quan. Thứ tư, tái cơ cấu ngân hàng được triển khai dưới nhiều hình thức, biện pháp và theo lộ trình thích hợp. Vấn đề hiệu quả của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm - Hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, do đó hiệu quả hoạt động của NH là một trong những vấn đề rất được quan tâm.
- Trong kinh tế học, hiệu quả được hiểu là thuật ngữ chỉ việc sử dụng các nguồn lực để tối đa hóa sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Do đó, hiệu quả là phép so sánh giữa kết quả đạt được với mục tiêu đúng đắn được đặt ra từ trước: 𝑲ế𝒕 𝒒𝒖ả đạ𝒕 đượ𝒄 Hiệu quả = 𝑴ụ𝒄 𝒕𝒊ê𝒖 đề 𝒓𝒂 - Trong lĩnh vực TC – NH thì hiệu quả hoạt động được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Hiệu quả được xem là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể đó bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiên nhất định. - Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), hiệu quả của NHTM được hiểu qua 2 khía cạnh: Khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra, khả năng sinh lời, hoặc khả năng giảm thiểu chi phí để tăng cường khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.
Xác suất hoạt động an toàn của các ngân hàng. - Hoạt động NH cũng là hoạt động kinh doanh, có vai trò, chức năng quan trọng trong nền kinh tế ngày nay. Lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động kinh doanh so với số vốn bỏ ra trong một thời gian nhất định cũng có thể được xem là hiệu quả. Các nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của NHTM: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời: - ROA (Return on assets): Tỷ số lợi nhuận trên tài sản, dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của NH.
Cách tính: ROA được xác định bằng cách lấy lợi nhuận (ròng hoặc trước thuế) chia cho bình quân giá trị tổng tài sản. Nếu đứng trên góc độ chủ của 1 doanh 27 nghiệp, ở tử số thường sử dụng lợi nhuận ròng dành cho cổ đông, còn chủ nợ thường sử dụng lợi nhuận trước thuế. 𝑳ợ𝒊 𝒏𝒉𝒖ậ𝒏 𝒓ò𝒏𝒈 𝒅à𝒏𝒉 𝒄𝒉𝒐 𝒄ổ đô𝒏𝒈 𝒕𝒉ườ𝒏𝒈 ROA = x 100 𝑩ì𝒏𝒉 𝒒𝒖â𝒏 𝒕ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 Ý nghĩa: ROA cho biết bình quân mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông. ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản).
ROA phụ thuộc rất lớn vào ngành nghề kinh doanh. Tài sản của một NH chủ yếu được hình thành từ nguồn vốn vay và vốn chủ sở hữu và được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua chỉ số ROA. ROA càng cao đồng nghĩa với NH đang kiếm được nhiều tiền hơn so với lượng vốn đầu tư.
- ROE (Return on equity): là chỉ số dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn cổ phần phổ thông. Cách tính: ROE được xác định bằng cách lấy lợi nhuận ròng dành cho cổ đông chia bình quân giá trị vốn cổ phần phổ thông. 𝑳ợ𝒊 𝒏𝒉𝒖ậ𝒏 𝒓ò𝒏𝒈 𝒅à𝒏𝒉 𝒄𝒉𝒐 𝒄ổ đô𝒏𝒈 Công thức: ROE = x 100 𝑩ì𝒏𝒉 𝒒𝒖â𝒏 𝒈𝒊á 𝒕𝒓ị 𝒗ố𝒏 𝒄ổ 𝒑𝒉ầ𝒏 𝒑𝒉ổ 𝒕𝒉ô𝒏𝒈 Ý nghĩa: ROE cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông. Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ NH sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, cân đối được vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô.
ROE càng cao thì cổ phiếu của NH đó càng hấp dẫn các nhà đầu tư. - Mối quan hệ giữa ROA và ROE: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 ROE = = x = ROA x 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎũ𝑢 Nhóm chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM: 28 - Chỉ tiêu vốn an toàn thối thiểu (CAR): là 1 chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức độ an toàn về vốn của các ngân hàng thương mại, giúp ngân hàng xác định khả năng bù đắp các rủi ro bằng nguồn vốn tự có của ngân hàng. CAR phản ánh mối quan hệ giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro NHTM. Hiện tại có hai công thức được áp dụng để xác định CAR của một ngân hàng hay một hệ thống ngân hàng: 𝑽ố𝒏 𝒕ự 𝒄ó Tỉ lệ an toàn vốn riêng lẻ = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝑻𝑺 "𝒄ó" 𝒓ủ𝒊 𝒓𝒐 𝑉ố𝑛 𝑡ự 𝑐ó ℎợ𝑝 𝑛ℎấ𝑡 Tỉ lệ an toàn vốn hợp nhất = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 "Có" 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 ℎợ𝑝 𝑛ℎấ𝑡 Trong đó: Vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2.
Tài sản “có” rủi ro là tổng giá trị TS “có” xác định theo mức độ độ rủi ro và giá trị tài sản “có” tương ứng với cam kết ngoài bảng theo hệ số chuyển đổi được quy định trong Mục 1 Điều 6, Thông tư 39/2013/TT-NHNN. Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số CAR của NHTM: Tác động lớn nhất ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn là ROA, sau đó là đòn bẩy tài chính và tỷ lệ tiền cho vay so với tổng tài sản (LOA) ba yếu tố này có mối quan hệ cùng chiều với CAR. Nhân tố cuối cùng tác động đến hệ số CAR là quy mô ngân hàng – logarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE). Mối tương quan âm chỉ ra rằng các ngân hàng thương mại niêm yết ở Việt Nam có quy mô càng lớn thì CAR càng nhỏ.
Giá trị của hệ số CAR chưa phản ánh đúng thực tế về mức độ rủi ro của các ngân hàng bởi vì cách tính hệ số CAR của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đang dần tiếp cận với chuẩn mực quốc tế nhưng vẫn còn khoảng cách và hiệp ước BASEL II chỉ mới được áp dụng thí điểm ở một số ngân hàng trong ngành. - Giới hạn tín dụng đối với khách hàng: thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định: 29 Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. - Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung dài hạn: Nguồn vốn hoạt động tín dụng của NH một phần lớn đến từ khoản tiền gửi của khách hàng đây được xem là nguồn vốn ngắn hạn của NH.
Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận NH sử dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn nhưng để đảm bảo khả năng thanh khoản thì tỉ lệ tối đa được sử dụng để cho vay là 60% theo quy định tại thông tư 36/2014/TT-NHNN. - Phân loại cho vay và mức trích lập dự phòng rủi ro: Để đảm bảo chất lượng tín dụng cũng như theo dõi kiểm soát được nợ vay thì các NHTM tiến hành phân chia nhóm nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM: - Nhóm nhân tố bên ngoài: Môi trường kinh doanh: Thực trạng nền kinh tế, sự gia tăng cạnh tranh trong danh mục sản phẩm dịch vụ, gia tăng chi phí vốn. Cách mạng CNTT trong ngành ngân hàng: Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, đồng thời giúp khách hàng chủ động giao dịch và tăng lợi thế cạnh tranh từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đang chuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử như máy rút tiền tự động ATM, dịch vụ Internet banking, mobile banking.
Môi trường pháp lí, chính trị: hệ thống luật và văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động ngân hàng.