Chương 1 đã chứng minh được tính cấp thiết của đề tài thông qua việc tiếp cận góc độ lý thuyết. Nhằm mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2022, tác giả đã chỉ ra mục tiêu nghiên cứu và hình thành 3 câu hỏi nghiên cứu về các yếu tố tác động, mức độ cũng như chiều hướng tác động của chúng đến RRTD của các NHTM Việt Nam. Từ đó, những giải pháp được đề ra nhằm giảm thiểu nguy cơ phát sinh nợ xấu thông qua hoạt động kinh doanh và quản lý trong hệ thống các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả xác định phương pháp định tính và định lượng sẽ được sử dụng trong bài nghiên cứu, đưa cấu trúc khái quát của đề tài bao gồm 5 chương nội dung và cuối cùng tóm lược những đóng góp của đề tài về mặt khoa học cũng như thực tiễn.
Nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, ở chương 2 tác giả sẽ đưa ra cơ sở lý thuyết về RRTD tại các NHTM Việt Nam, các yếu tố tác động đến RRTD của NHTM thông qua lược khảo các tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã được công nhận nhằm làm cơ sở xây dựng các giả thuyết nghiên cứu tại chương 3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về RRTD cũng như các chỉ tiêu đo lường RRTD và các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM. Ngoài ra, ở chương này, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước đã được công bố về các yếu tố tác động đến RRTD của các NHTM cũng được lược khảo. Tổng quan về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm về tín dụng ngân hàng Theo quan điểm truyền thống, tín dụng đơn giản là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên chuyển giao quyền sử dụng một khoản giá trị hoặc tài sản cụ thể cho bên kia với các điều kiện cụ thể mà cả hai bên đồng ý. Theo hai nhà kinh tế người Đức Situkh và Zahriga (1975), tín dụng xảy ra khi một bên (người nợ) cho bên kia (người cho vay) sử dụng một số tiền nhất định, và khi đến hạn trả nợ, người nợ phải trả lại toàn bộ số tiền đã vay cùng với một khoản lãi mà đã được thỏa thuận trước đó. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) cho rằng tín dụng ngân hàng là hoạt động ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính và các nghiệp vụ khác. Theo Hồ Diệu (2001) tín dụng được định nghĩa là khoản mục sử dụng vốn lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất của các ngân hàng.
Vì vậy sự thành công hay thất bại của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng. Theo Bùi Diệu Anh (2022) thì tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Dựa trên những định nghĩa trên, có thể hiểu rằng tín dụng ngân hàng là mối quan hệ giữa ngân hàng (nhà cho vay) và các thực thể khác trong nền kinh tế 9 (những người vay) dựa trên việc hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hoạt động như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, và các dịch vụ cấp tín dụng khác. Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Bessis (2011) rủi ro tín dụng là rủi ro bị tổn thất do người đi vay không có khả năng chi trả dẫn đến vỡ nợ hoặc không thanh toán được nợ.
Rủi ro vỡ nợ xuất hiện khi người đi vay không thực hiện đúng nghĩa vụ nợ của mình dẫn đến gây ra tổn thất một phần hoặc toàn bộ số tiền của bên cho vay. Ngoài ra, RRTD còn liên quan đến sự suy giảm trong tình trạng tín dụng của người vay, điều này không nhất thiết dẫn đến vỡ nợ ngay lập tức, nhưng tăng khả năng xảy ra. Mặc dù giá trị ghi sổ của khoản vay không thay đổi khi chất lượng tín dụng của người vay suy giảm nhưng giá trị thực tế cho nền kinh tế giảm do khả năng vỡ nợ tăng lên. Đối với một khoản nợ được giao dịch, một giao dịch không thuận lợi sẽ làm giảm giá trị niêm yết của nó.
Theo Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), RRTD sẽ xuất hiện trong trường hợp ngân hàng không thu được toàn bộ cả gốc lẫn lãi của khoản tín dụng, hoặc khi việc chi trả nợ gốc và lãi không đúng theo kỳ hạn. RRTD không chỉ xuất hiện trong việc cho vay mà còn trong nhiều hoạt động khác như, cho vay qua thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, bảo lãnh, tài trợ thương mại, đồng tài trợ dự án. Theo Yurdakul (2014) một trong những rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng phải đối mặt là RRTD. Tác giả lập luận rằng khả năng mất mát của ngân hàng khi người vay không thể thanh toán đúng hạn hoặc không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng với ngân hàng được gọi là RRTD.
Theo Bùi Diệu Anh (2022) thì rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có thể được hiểu là những biến cố không chắc chắn phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, mà hậu quả của những biến cố này mang lại tổn thất về thu nhập, giá trị vốn hoặc tổn hại cho danh tiếng của ngân hàng. Tóm lại, từ những khái niệm trên RRTD có thể được định nghĩa là nguy cơ 10 phát sinh trong quá trình Ngân hàng cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp và cá nhân khi bên vay không tuân thủ cam kết hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi. Việc này có thể bao gồm việc thanh toán chậm trễ, chỉ thanh toán một phần hoặc không tuân thủ cam kết đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của hệ thống các NHTM.
Trong đó chỉ tiêu tác động trực tiếp được sử dụng phổ biến và rộng rãi là tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu và tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD. Tỷ lệ nợ quá hạn Khi đến thời hạn cam kết trả nợ mà người đi vay không có khả năng chi trả một phần hay toàn bộ khoản vay đồng nghĩa nợ quá hạn sẽ phát sinh. Khoản này sẽ được đánh giá dựa trên thời gian quá hạn để phân chia vào các nhóm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Tỷ lệ nợ quá hạn theo Phạm Thái Hà (2017) được thiết lập như sau: 𝑆ố 𝑑ư 𝑛ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 𝑁ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn trên tổng khách hàng có dư nợ 𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔 𝑐ó 𝑛ợ 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑘ℎá𝑐ℎ ℎà𝑛𝑔 𝑐ó 𝑑ư 𝑛ợ Căn cứ vào các tiêu chí trên, nếu ngân hàng đang có chỉ tiêu nợ quá hạn và số lượng khách hàng có nợ quá hạn cao thì ngân hàng có mức RRTD cao và ngược lại.
Tỷ lệ nợ xấu Dưới góc độ đánh giá của NHTM, nợ xấu được hiểu là những khoản cho vay không còn hoạt động hoặc những khoản cho vay không có khả năng sinh lời – 11 khoản vay bắt đầu vỡ nợ khi khách hàng ngừng việc trả nợ (NPL: Non-Performing Loan). Tỷ lệ nợ xấu được xác định tuân theo tiêu chuẩn quốc tế và quy định tại mỗi quốc gia. Khoản nợ này phát sinh do doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản và mất khả năng chi trả. Nguyên nhân xuất phát từ việc ngân hàng thiếu thận trọng và chính xác trong quy trình kiểm định trước khi cho vay hoặc do khách hàng cố ý không trả nợ.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, căn cứ Quyết định số 22/VBHN- NHNN, nợ xấu là các khoản nợ quá hạn từ nhóm 3 trở lên. Tỷ lệ nợ xấu được phản ánh qua các chỉ tiêu đo lường như sau: 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 ( 𝑑ư 𝑛ợ 𝑛ℎó𝑚 3, 𝑛ℎó𝑚 4 𝑣à 5) Tỷ lệ nợ xấu = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 ( 𝑑ư 𝑛ợ 𝑛ℎó𝑚 3, 𝑛ℎó𝑚 4 𝑣à 5) Nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 ( 𝑑ư 𝑛ợ 𝑛ℎó𝑚 3, 𝑛ℎó𝑚 4 𝑣à 5) Nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = 𝑄𝑢ỹ 𝑑ự 𝑝ℎò𝑛𝑔 𝑡ổ𝑛 𝑡ℎấ𝑡 Chỉ số này được sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ tín dụng tại các ngân hàng. Nếu chỉ số này càng cao, điều này cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng đó thấp và đang gặp khó khăn trong việc quản lý các khoản vay. Ngược lại, nếu tỷ lệ này thấp so với các năm trước, điều này có thể cho thấy chất lượng các khoản vay đã được cải thiện, hoặc có thể ngân hàng đã thực hiện chính sách giảm các khoản nợ xấu hoặc thay đổi cách phân loại nợ.
Chỉ tiêu này được sử dụng trong một vài nghiên cứu như Louzis và cộng sự (2012), Castro (2013), Havidz và Obeng-Amponsah (2019), (Đặng Văn Dân, 2021), (Lê Duy Khánh, 2023). Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Theo Phạm Thái Hà (2017) dự phòng rủi ro đánh giá khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán khi rủi ro xảy ra. Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro của một ngân hàng là để giảm thiểu tổn thất đối với các khoản nợ của ngân hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán do giải thể, phá 12 sản, mất tích, chết hoặc khoản nợ khi xếp vào nhóm 5.1: Bảng mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Nhóm nợ Tỷ lệ trích lập dự phòng Nhóm 1 – Nợ tiêu chuẩn 0% Nhóm 2 – Nợ cần chú ý 5% Nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn 20% Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ 50% Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn 100% Dự phòng tín dụng được tính dựa trên dư nợ gốc của khách hàng và được hạch toán vào chi phí hoạt động bao gồm: (i) Dự phòng cụ thể: Đây là phần dự phòng được dành riêng để bảo vệ khỏi rủi ro cụ thể cho từng khoản vay.