CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Điều 3, Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của Ngân hàng nhà nước).
Phân loại rủi ro Theo Ủy ban Basel: Rủi ro của các tổ chức tài chính được phân thành tám loại gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng. Theo Angelopoulos and Mourdoukoutas: Rủi ro có thể được phân loại thành hai nhóm: rủi ro truyền thống và phi truyền thống rủi ro. Rủi ro truyền thống là rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro chính trị và pháp lý và rủi ro hoạt động. Rủi ro phi truyền thống là rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro xử lý nợ, rủi ro về giá, rủi ro danh mục đầu tư và rủi ro tài chính phái sinh.
Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm rủi ro tín dụng a. Khái niệm rủi ro tín dụng Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân 7 hàng nhà nước: Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Đặc điểm rủi ro tín dụng Thông qua hình thức cấp tín dụng, ngân hàng chuyển quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng sử dụng.
Vì vậy, rủi ro tín dụng xảy ra mang tính chất gián tiếp, xuất phát từ những khó khăn trong hoạt động SXKD của khách hàng. Rủi ro tín dụng có tính chất phức tạp, đa dạng trong nguyên nhân hình thành, hình thái thể hiện và hậu quả gây ra. Do đó cần phải nhận diện các dấu hiệu rủi ro kịp thời, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra. Rủi ro tín dụng có tính chất tất yến, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng– “hoạt động kinh doanh chấp nhận rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được lợi nhuận tối đa nhất của ngân hàng”.
Bên cạnh đó, thông tin bất cân xứng khiến cho ngân hàng không thể đánh giá được toàn diện, đầy đủ các dấu hiệu của rủi ro tín dụng do đó rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn ở bất cứ khoản vay nào của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng a. Căn cứ tính khách quan, chủ quan Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như động đất, lũ lụt, hạn hán. Rủi ro chủ quan là rủi ro do các nguyên nhân chủ quan xuất phát từ người cho vay hoặc người đi vay gây ra.
Căn cứ nguyên nhân phát sinh rủi ro Rủi ro giao dịch là rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch, thẩm định khách hàng, phê duyệt cho vay,. 8 Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh trong quá trình quản lý danh mục đầu tư. Căn cứ hình thức tài trợ vốn Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro nội bảng (cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,.) và rủi ro ngoại bảng (bảo lãnh, L/C,. Căn cứ theo tác động Rủi ro đặc thù là rủi ro do tính chất riêng khác của một người vay gây ra.
Rủi ro hệ thống là rủi ro do tác động lên toàn bộ các khoản vay. Tác động chủ yếu của rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xảy ra khiến ngân hàng không thu hồi được nợ vay, tổn thất về mặt tài chính, vòng quay vốn bị kéo dài ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng kéo theo các loại rủi ro khác cho ngân hàng như rủi ro hoạt động, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản,… Việc các khoản vay gặp khó khăn khi đến hạn thanh toán trong khi các khoản tiền gửi vẫn phải đáo hạn khi đến hạn khiến cho ngân hàng gặp khó khăn trong thanh toán. Rủi ro tín dụng kéo dài gây thất thoát vốn lớn dẫn đến các ngân hàng mất khả năng thanh toán và có thể bị phá sản.
Việc một ngân hàng phá sản kéo theo sự phá sản của các ngân hàng khác do tính chất hệ thống khi mà ngân hàng phá sản ban đầu có vị thế quan trọng trong hệ thống các TCTD và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của một quốc gia. Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín, thương hiệu, hình ảnh của ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng ở mức độ cao phản ảnh năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém, uy tín của ngân hàng bị giảm sút trên thị trường. HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Giới thiệu doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm và các hoạt động chính Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng. Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác (Điều 3, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/06/2014).
DNXL được thành lập theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Xây dựng năm 2014, có đăng ký kinh doanh ngành nghề thuộc lĩnh vực xây dựng cơ bản để tạo ra các công trình xây dựng hoặc kinh doanh về xây dựng. Trách nhiệm của DNXL: Đăng ký hoạt động xây dựng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm, thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao công trình, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng và công trình xây dựng của mình; Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi liên quan đến an toàn của các công trình lân cận và công trình đang xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái 10 trong quá trình xây dựng. Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để chủ đầu tư biết và lựa chọn (Điều 16, Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 của Chính phủ). DNXL bao gồm các hoạt động sản xuất chính là: Chế tạo các thiết bị phục vụ cho các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, thiết bị xây dựng, thiết bị bê tông, kết cấu thép, đường ống công nghiệp, các loại bình bể, silo chứa.; Xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình nhà ở dân dụng, công nghiệp, các công trình thuỷ lợi, giao thông; Lắp đặt xây dựng; Dịch vụ khác thuộc lĩnh vực xây dựng (Luật Xây dựng năm 2014).
Trong hoạt động xây dựng thường bao gồm Chủ đầu tư và DNXL (nhà thầu) thực hiện ký kết trực tiếp Hợp đồng TCXL hoặc DNXL nhận lại một phần công việc TCXL từ các nhà thầu chính. Hiện nay, Hợp đồng TCXL chủ yếu được thực hiện dưới hình thức tổ chức đầu thầu hoặc chỉ định thầu theo quy chế đấu thầu nhằm lựa chọn nhà thầu có đầy đủ tư cách pháp nhân, có năng lực thi công phù hợp đối với từng gói thầu. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật DNXL a. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức, quản lý Với đặc thù SXKD trên phạm vi rộng, sản phẩm phân bổ ở nhiều địa bàn khác nhau do đó cơ cấu tổ chức, quản lý DNXL phải phù hợp và đảm bảo hiệu quả hoạt động SXKD.
Cụ thể: Đối với các doanh nghiệp là các tập đoàn, các Tổng công ty, cơ cấu tổ chức được xây dựng theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con, Công ty liên doanh, liên kết… hoạt động SXKD theo định hướng, kế hoạch của Công ty mẹ. Đối với các Công ty cổ phần, các công ty cổ phần có quy mô vốn, tài sản tương đối lớn, cơ cấu tổ chức theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con kết hợp với việc thành lập các Chi nhánh, Văn phòng đại diện, Ban Quản lý dự án… với số lượng, quy mô và loại hình tổ chức sắp xếp phù hợp với quy mô hoạt động, SXKD của từng doanh nghiệp. 11 Đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, cơ cấu tổ chức quản lý sẽ được bố trí xắp xếp gọn nhẹ, đảm bảo hiệu quả SXKD. Đặc điểm về sản phẩm xây lắp Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, kết cấu phức tạp: Mỗi sản phẩm xây lắp có thể giống nhau về hình thức tuy nhiên kết cấu của mỗi sản phẩm xây lắp lại khác nhau tùy thuộc vào từng địa điểm xây dựng, do đó chi chi phí xây dựng mỗi sản phẩm xây lắp cũng khác nhau.
Bên cạnh đó, thời gian hoàn thành sản phẩm xây lắp thường kéo dài nên vốn đầu tư bị ứ đọng hoặc xảy ra tình trạng thiếu vốn khiến tiến độ thi công bị gián đoạn. Do đó, cần phải có kế hoạch thời gian thi công, dự toán từng công trình, hạng mục công trình cụ thể đồng thời có những biện pháp kỹ thuật thi công tránh kéo dài thời gian thi công, tiết kiệm chi phí, lao động. Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện tự nhiên: Những tác động không thể lường trước được của thời tiết, khí hậu sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công, chất lượng công trình. Mỗi DNXL cần phải tổ chức thực hiện thi công hợp lý, có biện pháp bảo quản nguyên vật liệu, bảo hành công trình nhằm tránh tác động xấu của điều kiện tự nhiên làm giảm hiệu quả quản lý chi phí của doanh nghiệp.