Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu lý luận pháp luật về bảo lãnh của ngân hàng thương mại đối với trách nhiệm của nhà thầu trong đấu thầu xây lắp 1. Các nghiên cứu lý luận về bảo lãnh của ngân hàng thương mại đối với trách nhiệm của nhà thầu trong đấu thầu xây lắp Một là, về khái niệm, đặc điểm, phân loại bảo lãnh của ngân hàng thương mại đối với trách nhiệm của nhà thầu trong đấu thầu xây lắp Ở Việt Nam, có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập nhưng chưa đi sâu phân tích khái niệm, đặc điểm, phân loại của hoạt động bảo lãnh của NHTM, cũng như chưa tách riêng, đi sâu vào mảng BLNHXL.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về BLNH có thể kể đến như : Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) [6]; Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội (2012) [5]; Giáo trình tín dụng ngân hàng của Học viện Ngân hàng (2001) [10]. Bài viết “Một số vấn đề về quan hệ BLNH ở nước ta hiện nay” của Võ Đình Toàn (2002) [30]; Bảo lãnh ngân hàng và tín dụng dự phòng của Lê Nguyên (1996) [17]. Ở nước ngoài, cũng có một số công trình khoa học đề cập đến khái niệm, đặc điểm, phân loại BLNH, có thể kể đến như: Bank Guarantees in International Trade (tạm dịch: Bảo lãnh ngân hàng trong thương mại quốc tế) của Roland F. Một số công trình khoa học khác nghiên cứu về BLNH dưới khái niệm “Guarantee” (bảo lãnh) và “Demand Guarantee” hay “Bank Demand Guarantee” (tạm dịch: Bảo lãnh trả tiền ngay/Bảo lãnh ngân hàng trả tiền ngay) như : Guide to the ICC Uniform Rules for Demand Guarantees 9 (tạm dịch : Hướng dẫn bộ quy tắc thống nhất của ICC về bảo lãnh trả tiền ngay) của Roy Goode (1992) [49]; Luận án Tiến sĩ luật học “Selective Legal Aspects of Bank Demand Guarantees” (tạm dịch: Một số khía cạnh pháp lý lựa chọn về bảo lãnh ngân hàng trả tiền ngay) của Michelle Kelly-Louw (2008) [55].
Từ các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể đưa ra nhận xét : (i) Khái niệm về BLNHXL hiện chưa thống nhất, chưa được phân tích, đánh giá, mà thường được trình bày theo hướng mô tả kỹ thuật bảo lãnh (đối tượng bảo lãnh, trách nhiệm bảo lãnh …) chứ không đề cập dưới khía cạnh pháp lý là một quan hệ hợp đồng giữa bên bảo lãnh (NHTM) và bên nhận bảo lãnh (nhà thầu tham gia đấu thầu xây lắp) thể hiện dưới dạng quyên và nghĩa vụ của hai bên đối với nhau; (ii) Các khái niệm chưa nêu rõ được bản chất của BLNHXL là một giao dịch bảo đảm nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo lãnh (nhà thầu tham gia đấu thầu xây lắp) đối với bên nhận bảo lãnh (bên mời thầu xây lắp). Hai là, về khái niệm, đặc điểm, nội dung của hoạt động BLNHXL Hiện nay, các công trình nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài thường không đề cập đến các vấn đề về khái niệm, đặc điểm, nội dung hoạt động BLNHXL. Một số công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu bản chất của cam kết bảo lãnh hoặc bản chất của giao dịch bảo lãnh như : “Bảo lãnh ngân hàng và tín dụng dự phòng” của Lê Nguyên (1996) [17]; “Một số vấn đề về quan hệ BLNH ở nước ta hiện nay” của Võ Đình Toàn (2002) [31]; “Xác định lại bản chất quan hệ bảo lãnh ngân hàng trong các quy định của pháp luật” của Nguyên Thành Nam (2013) [12]. Mặc dù các công trình này đã chỉ ra được bản chất của cam kết bảo lãnh là một quan hệ hợp đồng giữa hai bên, một bên là bên phát hành bảo lãnh (bên bảo lãnh) và một bên là bên thụ hưởng bảo lãnh (bên nhận bảo lãnh), nhưng chưa lý giải được bản chất của hoạt động BLNH, cũng như xác định các nội dung cụ thể của hoạt động BLNH, từ đó, không thể đi sâu vào hoạt động BLNHXL.
10 Như vậy, có thể kết luận rằng, hiện nay còn thiếu vắng các nghiên cứu về hoạt động BLNHXL trong các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Vì vậy, trong thực tế hiện còn nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động BLNHXL. Ba là, về các rủi ro phát sinh trong hoạt động BLNHXL Hoạt động BLNH nói chung và hoạt động BLNHXL nói riêng đem lại nguồn thu không nhỏ cho TCTD, nhưng hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, thậm chí những khoản tổn thất từ rủi ro có thể lớn hơn nhiều so với phí bảo lãnh mà TCTD thu được. Đặc trương của công trình xây lắp là sản phẩm mang tính đặc thù và được hình thành từ trước.
Do đó, một sự thay đổi nào đó trong quá trình triển khai, đặc biệt là quá trình đấu thầu, đều có thể gây ảnh ngrnghieem trọng, làm thay đổi tính năng và mục tiêu đã định. Tuy nhiên, đến nay cũng không nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về các rủi ro mà các bên liên quan phải đối mặt trong hoạt động BLNHXL và phương thức nào để hạn chế các rủi ro đó. Chằng hạn, trong “Bảo lãnh ngân hàng và tín dụng dự phòng” của Lê Nguyên (1996) [16], mặc dù tác giả đã dành hẳn một phần (phần III) nghiên cứu về những rủi ro của bảo lãnh và tín dụng dự phòng, nhưng mới nhìn nhận rủi ro dưới góc độ của bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Tại một số công trình khoa học khác thì không trực tiếp đề cập đến các rủi ro trong hoạt động BLNH nói riêng mà nghiên cứu chung về các rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng và các biện pháp để quản trị các loại rủi ro này, cụ thể như : “Rủi ro tín dụng thương mại ngân hàng - Lý luận và thực tiễn” của Trương Quốc Cường, Đào Minh Phúc, Nguyễn Đức Thắng (2010) [2]; “Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế” của Lê Văn Dũng (2007) [3]; “Xây dựng khung quản lý rủi ro hoạt động hướng tới giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro” của Nhóm nghiên cứu quản trị rủi ro hoạt động Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (2013) [18]; “Triển khai Basel II: Khi nào và tiếp cận như thế nào?” của Phạm Đỗ Nhật Vinh (2013) [35].
Các tài liệu này cũng có giá trị tham khảo 11 trong việc nghiên cứu cách thức nhận diện rủi ro và các phương thức quản lý rủi ro hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích và phạm vi nghiên cứu chuyên sâu, liên quan tới nhiều ngành luật của luận án, nội dung các công trình nêu trên chưa đề cập đầy đủ và toàn diện các rủi ro phát sinh trong hoạt động BLNHXL. Các nghiên cứu lý luận pháp luật về bảo lãnh của ngân hàng thương mại đối với trách nhiệm của nhà thầu trong đấu thầu xây lắp Nội dung lý luận pháp luật về hoạt động BLNHXL bao gồm 3 vấn đề cơ bản là : Khái niệm và nguyên tắc của pháp luật về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng BLNHXL; cấu trúc pháp luật về hoạt động BLNHXL và những yếu tố chi phối pháp luật về hoạt động BLNHXL. Một là, về khái niệm, nguyên tắc pháp luật về hoạt động BLNHXL Hiện nay, các công trình nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài nghiên cứu chưa đầy đủ các vấn đề lý luận về pháp luật hoạt động BLNH cũng như hoạt động BLNHXL như khái niệm, nguyên tắc của pháp luật về lĩnh vực này, trong khi việc làm rõ khái niệm và các nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cấu trúc pháp luật cũng như những nội dung cần được quy định trong pháp luật hoạt động BLNHXL.
Tuy nhiên, ở từng giác độ cụ thể, cũng có một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến nội dung nêu trên, như: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) [6]; Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội (2012) [5]. Hai là, về cấu trúc pháp luật về hoạt động BLNHXL Việc nghiên cứu cấu trúc pháp luật về hoạt động BLNHXL có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nội dung của pháp luật về hoạt động này. Đề cập đến vấn đề này dưới giác độ pháp luật về BLNH có một số công trình như sau: Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội (2005) [6]; Giáo trình Luật ngân hàng Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội (2012) [5]; tác phẩm Bank Guarantees in International Trade (tạm dịch: Bảo 12 lãnh ngân hàng trong thương mại quốc tế) của Roland F.Bertrams (1996) [42]; luận án “Selective Legal Aspects of Bank Demand Guarantees” (tạm dịch: Một số khía cạnh pháp lý lựa chọn về bảo lãnh ngân hàng trả tiền ngay) của Michelle Kelly-Louw (2008) [55] và một số công trình khác. Nhìn chung, mỗi công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu một hoặc một số nội dung chính trong cấu trúc pháp luật về hoạt động bảo lãnh của ngân hàng chứ chưa đi sâu vào BLNHXL.
Chưa có nhiều công trình làm rõ việc pháp luật về hoạt động này cần điều chỉnh các nội dung gì. Đi sâu vào từng nội dung lý luận trong cấu trúc pháp luật về hoạt động BLNH có thể thấy: - Các ấn phẩm do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ấn hành, trong đó đáng chú ý nhất là “Uniform Rules for Demand Guarantees No. Đây là bộ quy tắc thể hiện các thông lệ quốc tế về BLNH, bộ quy tắc này được ban hành trên cơ sở tổng kết thực tiễn áp dụng của Uniform Rules for Contract Guarantees No.325 (tạm dịch: Bộ quy tắc thống nhất về bảo lãnh hợp đồng số 325) [50] và Uniform Rules for Demand Guarantees No. Bên cạnh đó, các bản hướng dẫn thực hiện Bộ quy tắc thống nhất về bảo lãnh trả tiền ngay cũng góp phần làm rõ các nội dung của Bộ quy tắc này, chẳng hạn như: “Guide to the ICC Uniform Rules for Demand Guarantees” của Roy Goode (1992) [49].
Các bộ quy tắc và bản hướng dẫn nêu trên không mang tính bắt buộc nhưng ICC đã tổng kết thực tiễn và đưa ra các quy định khuyến nghị đối với các ngân hàng thực hiện hoạt động BLNH trong thương mại quốc tế. Những quy định mang tính khuyến nghị này được coi như tập quán quốc tế và nhiều chủ thể tham gia hoạt động BLNH lựa chọn áp dụng, cũng như được nhiều quốc gia nội luật hóa trong pháp luật của họ.