CHƯƠNG I GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG KIẾN TRÚC NHÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Giá trị văn hóa trong kiến trúc truyền thống Việt Nam 1.1 Giá trị văn hóa truyền thống Văn hóa là lĩnh vực có tầm bao quát rộng trong các hoạt động sản sinh ra giá trị vật chất và tinh thần của con người, vì vậy hiện nay tồn tại nhiều khái niệm để diễn đạt nội dung và phạm vi ảnh hưởng của nó. Thế kỷ XVII, Samuel Von Pufendorf (1632 – 1694) dùng từ “văn hóa” để biểu thị tất cả những gì mà con người làm ra hay học được trong xã hội, văn hóa là nhân tạo [1]. Tương tự, Từ Chi cho rằng cái gì không phải tự nhiên thì là văn hóa [59, tr. Tuy nhiên Eluard Heriot đề xuất chỉ xem văn hóa là cái còn đọng lại khi người ta quên đi tất cả [29].
Bằng cách tiếp cận hệ thống – loại hình, Trần Ngọc Thêm nhìn nhận văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn [54, tr. Theo quan điểm này thì chỉ những cái đã kết tinh thành giá trị mới là cốt lõi của văn hóa. Năm 2001, UNESCO cũng đưa ra cách hiểu văn hóa nên được xem như một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội; ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng [9]. Như vậy chỉ với 5 dẫn chứng trên đây cho thấy có những quan điểm không giống nhau về văn hóa, tuy nhiên vẫn làm sáng tỏ 2 nội dung: 1) tính bao hàm của văn hóa: gộp chung tất cả những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để khu biệt với những gì thuộc về tự nhiên; 2) tính chọn lọc của văn hóa: là những gì thực sự có ý nghĩa (có giá trị) chứ không phải tất cả sản phẩm do sự sáng tạo của con người.
Như vậy, quan điểm thứ nhất hàm chứa quan điểm thứ hai nhưng được mở rộng hơn. Và 2 quan điểm cùng bổ sung để hướng đến khái niệm giá trị 12 văn hóa (cultural value). Ficher, tất cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng hoặc đáng kính phục đối với con người hoặc nhóm đều “có một giá trị” [31, tr. Ngô Đức Thịnh cho rằng giá trị văn hóa là một hình thái của đời sống tinh thần và giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ một hiện tượng tự nhiên, xã hội nào [58, tr.
Dẫn chứng trên xác lập tính hệ thống của giá trị văn hóa với ý nghĩa là các giá trị đó nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ tác động lẫn nhau. Ngoài ra, hệ giá trị văn hóa có tính định hướng mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội. Hệ giá trị văn hóa thường bao hàm hai nội dung: 1) các giá trị riêng lẻ kết hợp tạo nên hệ thống hữu cơ; 2) có sự sắp đặt trước sau, độ nhấn về tầm quan trọng của từng nhân tố trong một thang giá trị [64, tr. Đồng quan điểm này, Tạ Văn Thành nhận định các giá trị văn hóa luôn tồn tại trong một hệ thống; gắn bó, đan xen, tác động qua lại tạo thành một chỉnh thể thống nhất [50].
Như vậy, hệ giá trị văn hóa là hệ thống các giá trị kết hợp hữu cơ với nhau, có tác dụng định hướng cho mục tiêu hành động của con người trong xã hội. Hệ giá trị văn hóa mang tính chủ quan và tương đối. Do vậy, để đánh giá tính giá trị hay phi giá trị, giá trị cao hay thấp thì phải đặt nó trong tọa độ về mặt không gian, thời gian và chủ thể văn hóa1. Điều này cho thấy hệ giá trị văn hóa có thể thay đổi chứ không tồn tại “nhất thành bất biến”.
Theo Nguyễn Văn Hiệu, giá trị văn hóa là một phạm trù lịch sử, có quá trình vận động của nó. Ngay trong nội bộ một nền văn hóa, các giá trị cụ thể và cả hệ giá trị cũng luôn vận động và biến đổi [20]. Ngoài ra, những giá trị hình thành trong tiến trình phát triển dân tộc và còn ảnh hưởng đến xã hội hiện nay được gọi là văn hóa truyền thống (VHTT). Bách khoa thư Từ điển của Liên Xô (cũ) nêu khái niệm truyền thống là những yếu tố của di tồn văn hóa từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội bởi một quá trình lâu dài.
Truyền thống được thể hiện trong các định chế xã hội, chuẩn mực và hành vi, các giá trị tư tưởng, phong tục tập quán và lối sống [59, tr. Theo từ điển Hán – Việt, truyền thống 1 Trần Ngọc Thêm gọi là tọa độ C – T – K. 13 được định nghĩa là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử… Truyền thống có tác động khống chế vô hình đến hành vi xã hội của con người và biểu hiện tính kế thừa của lịch sử. Như vậy, VHTT là hệ thống các giá trị được chọn lọc từ quá khứ, có sự lưu truyền và biến đổi theo từng thời kỳ, tiềm ẩn sức mạnh chi phối hoạt động của con người trong xã hội ngày nay.
VHTT còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các dân tộc trong cộng đồng nhân loại nói chung; biểu hiện trên nhiều lĩnh vực, tạo nên bộ mặt tinh thần phong phú. Đó là những giá trị thuộc đời sống sinh hoạt (ăn, mặc, ở, đi lại), tổ chức và quản lý xã hội, giáo dục, đào tạo, văn học, nghệ thuật, kiến trúc,. Tóm lại, VHTT là những sáng tạo của nhân dân trải qua hàng nghìn năm đã kết tinh thành giá trị, trở thành hệ điều tiết đối với sự phát triển xã hội. Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghiã là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau [59, tr.
Trên thế giới, nhiều nền văn hóa và văn minh lớn đã định hình các hệ giá trị tiêu biểu. Với Trung Hoa cổ đại là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín (ngũ thường); với phương Tây cổ đại là chân, thiện, mỹ. Ở Việt Nam, Đào Duy Anh đề xuất 7 giá trị VHTT, bao gồm: 1) sức kí ức tốt, thiên về nghệ thuật và trực giác; 2) ham học, thích văn chương; 3) ít mộng tưởng (thiết thực); 4) sức làm việc khó nhọc (cần cù); 5) nhẫn nhục; 6) chuộng hòa bình; 7) thích ứng và dung hòa [53]. Trần Văn Giàu cũng nêu 7 giá trị truyền thống là: 1) yêu nước; 2) cần cù; 3) anh hùng; 4) sáng tạo; 5) lạc quan; 6) thương người; 7) vì nghĩa [59, tr.
Ngô Đức Thịnh tóm lược hệ giá trị tổng quát gồm 5 thành tố: 1) chủ nghĩa yêu nước; 2) tinh thần cộng đồng; 3) tinh thần lạc quan; 4) tinh thần cần cù, chịu đựng gian khổ; 5) tiếp nhận có chọn lọc trong giao lưu văn hóa [59, tr. Với quan điểm cho rằng văn hóa Việt Nam là một “hệ thống mở”, Nguyễn Kiến Giang đề xuất một số giá trị cơ bản như: 1) tục thờ cúng tổ tiên; 2) tư duy thiên về “vận dụng”; 3) tâm thức duy cộng đồng; 4) tinh thần “nhu đạo”, linh hoạt, lưu động [31, tr. Nhìn chung, những quan điểm tương tự như vậy khá nhiều và có thể trùng lặp giữa những tác giả, nhưng phần lớn đều là nhận định cảm tính. Do đó, vận dụng 14 phương pháp hệ thống – loại hình với thủ pháp “năm định”2, Trần Ngọc Thêm tổng kết 5 giá trị cần và đủ để nhận diện và khu biệt VHTT Việt Nam, gồm có: 1) tính cộng đồng; 2) tính ưa hài hòa; 3) tính trọng âm; 4) tính tổng hợp; 5) tính linh hoạt [53, tr.
Tổng hợp quan điểm giá trị VHTT Việt Nam [bảng 1.1] nhận thấy giữa các tác giả có sự thống nhất cao về 2 giá trị nổi trội là tính cộng đồng và tính linh hoạt. Tuy nhiên, đây không phải là những giá trị riêng có mà sự khác biệt với các quốc gia nằm ở sắc thái và cách biểu hiện do đặc thù lịch sử đem lại. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và tập quán tổ chức xã hội Việt Nam cấu thành nên tính cộng đồng và tính linh hoạt rõ nét hơn các giá trị khác; ngược lại, chính các giá trị này cũng chi phối sâu sắc nhiều lĩnh vực xã hội. Bên cạnh đó, việc chọn lọc hệ giá trị VHTT Việt Nam còn tùy thuộc góc độ nghiên cứu của từng tác giả, phản ánh tính chủ quan và tương đối của văn hóa.
Từ quan điểm này mở ra khả năng xác lập hệ giá trị văn hóa của kiến trúc truyền thống (KTTT) Việt Nam nói chung và kiến trúc nhà ở nói riêng dựa trên phương pháp tổng hợp nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau, qua đó chọn lọc những giá trị chung nhất để làm tiền đề lý thuyết cho luận án.1: CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM Stt Đào Duy Anh Trần Văn Giàu Ngô Đức Thịnh Nguyễn K. Giang Trần Ngọc Thêm 1 Thích ứng, dung hòa Sáng tạo Tiếp nhận chọn lọc Linh hoạt Tính linh hoạt 2 Chuộng hòa bình Thương người Cộng đồng Cộng đồng Tính cộng đồng 3 Cần cù Cần cù Cần cù 4 Lạc quan Lạc quan 5 Yêu nước Yêu nước 6 Thiết thực Tư duy vận dụng 7 Sức kí ức 8 Ham học 9 Nhẫn nhục 10 Vì nghĩa 11 Thờ cúng tổ tiên 12 Tính tổng hợp 13 Tính trọng âm 14 Tính ưa hài hòa 2 Thủ pháp “năm định” bao gồm: 1) định vị đối tượng trong hệ tọa độ gốc C-T-K; 2) định vị đối tượng trong hệ loại hình văn hóa; 3) định tính phẩm chất trong cặp đối lập; 4) định lượng đối tượng trên thang giá trị; 5) định hệ cho các giá trị thu được.2 Giá trị văn hóa trong kiến trúc truyền thống Việt Nam Trong văn hóa của mỗi quốc gia có một mảng đặc thù và quan trọng là kiến trúc – một biểu hiện đa diện của văn hóa – sự kết hợp của sáng tạo nghệ thuật với kiến thức khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trên cơ sở hiểu biết về thiên nhiên, con người và xã hội [40]. Hiện nay đang tồn tại 2 xu hướng nghiên cứu giá trị bản sắc văn hóa trong KTTT Việt Nam. Sự khác biệt này xuất phát từ cấu trúc hai bậc [14] của văn hóa, đó là: - Cấu trúc bề mặt (biểu tầng): những biểu hiện bên ngoài và biến đổi liên tục.