chương 1, tác giả đã giới thiệu chủ đề và sự cần thiết của bài báo. Xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, chủ đề và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, xác minh phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và đóng góp của đề tài nghiên cứu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Khái niệm về ngân hàng thương mại Cho đếm thời điểm hiện tại, có rất nhiều định nghĩa về NHTM. Tại Hoa Kỳ, NHTM được xem là một công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam, NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ - CP của chính phủ về tổ chức và hoạt động NHTM) Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội Việt Nam ban hành năm 2010 quy định: "Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng thực hiện các hoạt động gồm: nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc hoàn trả đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận". Từ những quan điểm nêu trên, có thể thấy NHTM là một tổ chức tài chính hoạt động với mục tiêu tạo lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch tiền tệ.
Các ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào tiền gửi thường xuyên từ khách hàng để cung cấp các dịch vụ tài chính như cấp tín dụng, chiết khấu và thanh toán. Những hoạt động này giúp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế bằng việc sử dụng tiền của người “thừa” để hỗ trờ những người “thiếu”. Các hoạt động của NHTM Căn cứ tại Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, quy định về hoạt động ngân hàng thương mại, bao gồm: - Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. 7 - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.
- Cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây: + Cho vay; + Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; + Bảo lãnh ngân hàng; + Phát hành thẻ tín dụng; + Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; + Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. - Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng. - Cung ứng các phương tiện thanh toán. - Cung ứng các dịch vụ thanh toán sau đây: + Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; + Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Khái niệm về rủi ro tín dụng của NHTM Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì “rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra tổn thất xuất phát từ sự vi phạm bởi người vay hoặc đối tác” (Bank for International Settlements/BIS, 2001). Trong khái niệm này, sự tổn thất bởi rủi ro tín dụng bắt nguồn từ sự vi phạm của người vay hoặc đối tác. Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), nợ xấu của các NHTM được xác định phụ thuộc vào kết quả thu hồi nợ của NH.
Theo Theo Thomas P. Fitch (1997), là một trong những nguy cơ chính mà các tổ chức tài chính phải đối mặt khi cung cấp các dịch vụ vay. Điều này xuất phát từ khả năng của người vay không thực hiện đúng các cam kết trả nợ theo hợp đồng, dẫn đến tình trạng nợ xấu. Cùng với rủi ro về biến động lãi suất, rủi ro tín dụng được coi 8 là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính, đặc biệt là ngân hàng.
Tại Việt Nam, dựa theo khoản 8 điều 3 Thông tư 14/2023/TT-NHNN quy định rủi ro tín dụng như sau: “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng phi ngân hàng, trừ các trường hợp quy định tại điểm b Khoản này. Trong đó, khách hàng (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) có quan hệ với tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong việc nhận cấp tín dụng (bao gồm cả nhận cấp tín dụng thông qua ủy thác), nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu doanh nghiệp). Bên cạnh đó, theo Thông tư số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013 về “Việc phân loại, trích lập và sử dụng nợ để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng” và theo quy định theo khoản 1 Điều 10 của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Thông tư số 09/2014/TT- NHNN thì “Nợ xấu là những khoản nợ từ nhóm 3, cụ thể: nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn, thời gian quá hạn từ 90 –180 ngày), nhóm 4 (nợ nghi ngờ, thời gian quá hạn từ 181 – 360 ngày) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn, thời gian quá hạn trên 360 ngày”. Từ những quan điểm trên, tác giả đưa ra nhận định rằng RRTD là một loại rủi ro xảy ra trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho khách hàng, do khách hàng vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc không trả nợ đúng theo thời gian đả cam kết trong hợp đồng cấp tín dụng.
RRTD là một trong những rủi ro thường xảy ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM và có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của các NHTM.4 Nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng tại các NHTM Rủi ro tín dụng là một vấn đề phức tạp, có nguồn gốc từ nhiều yếu tố khác nhau. Theo Ghosh (2012), rủi ro này có thể phân chia thành hai loại chính: nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài của ngân hàng. Trong số những yếu tố nội tại, có thể kể đến quá trình đánh giá và quyết định về tín dụng không cẩn thận, quản lý tín dụng không hiệu quả, và sự không đoán trước được những biến cố không mong muốn, cũng như ý thức trả nợ của khách hàng. Đối diện với những thách thức từ bên 9 ngoài, như sự suy thoái kinh tế hoặc sự thay đổi trong chính sách tài chính và thị trường tài chính, ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro tín dụng không ít.
Yếu tố nội và ngoại vi có sự ảnh hưởng lẫn nhau đối với rủi ro tín dụng. Khi các yếu tố nội tại của ngân hàng được quản lý tốt, rủi ro tín dụng có thể được kiểm soát hiệu quả hơn. Trong khi đó, trong một môi trường kinh tế phức tạp, việc hoàn thành nghĩa vụ vay của các doanh nghiệp có thể gặp khó khăn, dẫn đến tăng rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng. Đánh giá và quyết định cấp tín dụng không cẩn thận Khi NH ra quyết định cấp tín dụng cho một KH cá nhận hoặc doanh nghiệp, nếu các NH nói chung và các cán bộ thẩm định nói riêng không đánh giá một cách chi tiết, kĩ lưỡng về khả năng trả nợ của KH, kế hoạch sử dụng vốn, tính khả thi của dự án… thì sẽ có thể dẫn đến việc dòng tiền trả nợ không được đảm bảo, khách hàng không thể trả được nợ gốc và lãi vay, từ đó xuất hiện những khoản nợ không thể thanh toán.
Quản lý tín không hiệu quả Việc quản lý kém đã được Berger & Young (1997) nhắc đến trong bài nghiên cứu của họ. Cụ thể, trong nền kinh tế luôn biến động và thay đổi phức tạp, chất lượng quản lý của mỗi NHTM đóng vai trỏ quyết định tới khả năng đối phó với các sự thay đổi phúc tạp này. Quản lý yếu kém bao gồm không thể đánh giá rủi ro chính xác, quản lý tài sản thiếu hiệu quả… những việc này sẽ dẫn đến hệ quả làm tăng nguy cơ xảy ra rủi ro. Ý thức trả nợ của KH Nên cạnh những yếu tố bên trong, những yếu tố bên ngoài cũng là một trong những thách thức và rủi ro mà các NH khó có thể lường trước và dự trù.
Bhattarai (2016) cho rằng, KH có thể xuất hiện các hành vi cố tình không tôn trọng các cam kết theo thỏa thuận mặc dù vẫn đủ khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ, các hành vi này có tỷ lệ cao gây ra rủi ro cho các NH. 10 Suy thoái kinh tế Trong bối cảnh thị trường toàn cầu đang trải qua những biến động nhanh chóng, kinh tế nội địa thường phải chịu ảnh hưởng từ sự dao động của kinh tế thế giới. Sự thay đổi đột ngột trong chính sách lãi suất và điều hành kinh tế của quốc gia cũng đặt ra nhiều thách thức cho khách hàng vay, đặc biệt là trong việc thiết lập chiến lược kinh doanh. Những biến động này có thể làm mất đi sự tự chủ của họ và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ.
Bên cạnh đó, việc thiếu các chính sách ngăn chặn hiệu quả để ngăn chặn hàng giả và hàng nhập lậu cũng gây ra thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong nước. Khi kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, sản xuất và kinh doanh của khách hàng cũng bị hạn chế và trì trệ, có thể dẫn đến thua lỗ và phá sản. Những yếu tố khách quan từ môi trường kinh tế không thể dự đoán trước đóng một vai trò quan trọng, làm cho môi trường kinh doanh trở nên không ổn định. Điều này có thể làm suy giảm khả năng tài chính của người vay và gây ra những hậu quả khó khăn hoặc không thể thu hồi được nợ.
Điều này được minh chứng trong nghiên cứu của Kuzucu & Kuzucu (2019), cho thấy rằng sự kiện khủng hoảng tài chính năm 2008 đã tăng đáng kể rủi ro tín dụng tại các ngân hàng ở các quốc gia mới nổi và phát triển. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của NHTM Nợ xấu Nợ xấu là một thuật ngữ rất phổ biến trên hầu hết tất cả các nên kinh tế trên thế giới.