CHƯƠNG 1 Rủi ro tín dụng, đại diện là nợ xấu trong giai đoạn hiện nay đã trở thành một vấn đề bức thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của nền kinh tế, đòi hỏi các cơ quan quản lý và các NHTM phải có những giải pháp hữu hiệu để đối phó cũng như phòng ngừa ngay từ ban đầu. Trước khi đi vào tìm hiểu tình hình rủi ro tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tại thị trường Việt Nam hiện nay, luận văn sẽ tiến hành lược khảo các lý thuyết cơ bản cũng như những nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu trên thế giới về vấn đề rủi ro tín dụng nhằm tìm hiểu các nhân tố nào sẽ ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM. 5 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM 2.1 Định nghĩa rủi ro tín dụng Theo Castro (2013), rủi ro tín dụng được định nghĩa là rủi ro của một khoản vay mà không được hoàn trả (một phần hay toàn bộ) cho người cho vay. Theo Yuldakul (2014), rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng gặp phải chính là rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng liên quan đến khả năng tổn thất của một ngân hàng khi người đi vay không đủ khả năng hoàn trả đúng thời hạn hoặc không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng mà họ đã ký với ngân hàng. Theo Manab, Theng và Md-Rus (2015), rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mất mát hoặc tổn thất các tài sản có giá trị xảy ra do đối tác không có đủ khả năng để đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng. Vậy, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết. Rủi ro tín dụng, bên cạnh việc làm giảm lợi nhuận, khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng, nó còn là nguy cơ dẫn đến việc ngân hàng phá sản.
Tuy nhiên, vấn đề quản trị rủi ro tín dụng là không hề đơn giản, vì rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức và biểu hiện khác nhau, nên rất khó kiểm soát. Chính vì vậy, việc tìm hiểu, đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng là rất cần thiết trong hoạt động của NHTM nhằm giảm thiểu tổn thất và thiệt hại, nâng cao uy tín ngân hàng.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 2.1 Nguyên nhân khách quan - Môi trường kinh tế: khi kinh tế tăng trưởng ổn định, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuận lợi và có nguồn thu nhập ổn định, đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên, khi kinh tế rơi vào suy thoái hoặc có những diễn biến bất lợi cho ngân hàng 6 và các doanh nghiệp, sản xuất đình trệ, giảm khả năng cạnh tranh, giảm sức mua…dẫn đến sự suy giảm trong thu nhập và khả năng trả nợ, từ đó làm gia tăng rủi ro tín dụng. - Môi trường pháp lý: đặc thù của hoạt động ngân hàng đó là kinh doanh tiền tệ và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế.
Do đó, cần có một khung pháp lý chặt chẽ đối với hoạt động của ngành ngân hàng (đặc biệt là hoạt động tín dụng) nhằm hạn chế những kẽ hở dẫn đến tình trạng lừa đảo, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng.2 Nguyên nhân chủ quan - Từ phía ngân hàng: Chính sách và quy trình tín dụng của ngân hàng là yếu tố then chốt trong quản lý rủi ro tín dụng. Một quy trình tín dụng chặt chẽ, hợp lý và có sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng ban sẽ giúp ngân hàng kiểm soát tốt hoạt động tín dụng và hạn chế rủi ro. Ngược lại, khi quy trình tín dụng lỏng lẻo, thiếu đồng bộ và không phù hợp với tình hình thực tế, cùng với những yếu kém trong việc phân tích khả năng trả nợ và không kiểm soát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, sẽ dẫn đến đưa ra quyết định cho vay sai lầm và gia tăng tỷ lệ nợ xấu. - Từ phía khách hàng: Trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất luôn ở trong tình trạng môi trường cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý cũng như cập nhật và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh của mình.
Chính vì vậy, nếu khách hàng của ngân hàng thiếu năng lực quản trị, yếu kém trong quản lý sẽ dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả, thậm chí thua lỗ, phá sản và mất khả năng trả nợ cho ngân hàng. 7 Bên cạnh đó, đạo đức của người đi vay cũng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ngân hàng. Ngân hàng sẽ gặp rủi ro không thu hồi được lãi và nợ gốc đúng hạn, thậm chí có thể mất cả vốn gốc khi khách hàng không có thiện chí trả nợ, cố tình sử dụng vốn vay không đúng mục đích và lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng - Tác động đến hoạt động của NHTM Rủi ro tín dụng gây nên nhiều tác động tiêu cực mà nợ xấu là hậu quả tiêu biểu cho điều này. Nợ xấu ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của các NHTM mà đặc biệt là hoạt động tín dụng, kéo theo lợi nhuận của ngân hàng sụt giảm và lượng vốn cho vay lấy ra từ tiền gửi không được hoàn trả.
Điều đó kéo theo việc NHTM không đảm bảo đủ tiền để chi trả cho các khoản tiền gửi và lãi tiền gửi có liên quan cho khách hàng gửi tiền. Khi khách hàng rút tiền với số lượng lớn NHTM sẽ dễ rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản. Từ đó, có thể gây nên khủng hoảng trong hệ thống NHTM. Nợ xấu còn kéo hệ số an toàn vốn của bản thân NHTM bị sụt giảm.
Khi rủi ro tín dụng tăng, các khoản tín dụng sẽ được nhân với hệ số rủi ro cao hơn dẫn đến hệ số an toàn vốn sẽ sụt giảm so với trước khi xảy ra nợ xấu. Khi hệ số an toàn vốn của nhiều NHTM bị sụt giảm sẽ kéo theo uy tín của hệ thống NHTM bị ảnh hưởng tiêu cực. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Khi không thể thu hồi được nợ gốc và lãi, bản thân NHTM đã mất đi một nguồn thu trong doanh thu của mình.
Hiện tại, đối với nhiều NHTM mà hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn thì nguồn thu chủ yếu đến từ lãi cho vay và các khoản phí tín dụng. Không những vậy, NHTM phải trích lập thêm các khoản dự phòng cho nợ xấu, xử lí nợ xấu làm gia tăng thêm chi phí, giảm lợi nhuận. Trong dài hạn, nếu như tác động của rủi ro tín dụng quá lớn, NHTM phải hạn chế tăng trưởng và mở rộng hoạt động tín dụng, và lớn hơn có thể thay đổi chiến lược kinh doanh. Điều này sẽ gây tác 8 động tiêu cực đến chính NHTM khi phải thay đổi nhân lực, hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ thông tin… gây tốn kém về chi phí và thời gian.
Những hậu quả kể trên có thể làm cho tạo cho khách hàng tâm lý tiêu cực về hình ảnh NHTM, dễ dẫn đến phá sản, tạo phản ứng dây chuyền trong hệ thống NHTM, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia. - Tác động đến hoạt động của nền kinh tế Lượng vốn chu chuyển trong nền kinh tế bị tắc nghẽn. Lượng vốn vay bị các chủ thể vay vốn chiếm dụng làm cho NHTM không hoàn trả lại đúng hạn cho các chủ thể cung cấp vốn và không đủ vốn để đáp ứng cho các chủ thể khác đang có nhu cầu. Dẫn đến, một số ngành, lĩnh vực không có cơ hội phát triển vì thiếu vốn.
Nợ xấu làm cho quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn bị chậm trễ, kéo theo các chi phí của xã hội cũng gia tăng theo. Khi một số NHTM gặp phải rủi ro tín dụng gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và không thể mở rộng tăng trưởng tín dụng sẽ kéo theo tốc độ tăng trưởng tín dụng của cả hệ thống NHTM bị sụt giảm. Trong khi đó, nền kinh tế đang phát triển với tốc độ cao cần lượng vốn đủ để đáp ứng, nhưng hoạt động tín dụng của NHTM không thể theo kịp sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, gây tác động xấu đến nâng cao hiệu quả sản xuất của quốc gia, giảm hiệu quả nâng cao mức sống của người dân. Sức mạnh của hệ thống tài chính bị suy giảm.
Khi hệ thống NHTM gặp phải vấn đề về rủi ro tín dụng sẽ làm cho các chủ thể kinh tế tìm đến thị trường chứng khoán để giải quyết nhu cầu về vốn. Khi tỷ trọng chủ thể kinh tế thực hiện giao dịch trên thị trường tài chính quá lớn sẽ làm mất cân đối giữa thị trường tài chính và thị trường tiền tệ (mà hệ thống NHTM đóng vai trò quan trong thị trường này). Đối với các quốc gia mà hệ thống NHTM chiếm vai trò quan trọng, khi xảy ra rủi ro sẽ làm cho thị trường 9 chứng khoán thay đổi theo. Đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, trình độ của thị trường chứng khoán chưa phát triển và tâm lý của các nhà đầu tư dễ bị ảnh hưởng.
Rủi ro tín dụng sẽ là rào cản cho NHTM khi muốn hội nhập với thế giới. Trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng đối với các NHTM toàn cầu, Ủy ban Basel đã ban hành các văn bản Basel I, II và III để hướng dẫn. Khi năng lực quản trị rủi ro mà đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng của mỗi NHTM chưa đủ để đáp ứng với yêu cầu từ phía Ủy ban Basel sẽ khó để quản trị tốt được rủi ro trong quá trình hoạt động. Ngược lại, khi các NHTM có thể tuân thủ theo đúng các nội dụng được đưa ra sẽ tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm và đặc biệt là có thể học hỏi thêm kinh nghiệm quản lý rủi ro từ các ngân hàng nước khác.4 Các tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng Có thể đánh giá rủi ro tín dụng dựa trên một số chỉ tiêu: 2.