Chương 1 giới thiệu về tên đề tài và giải thích lý do tác giả chọn thực hiện đề tài này. Đồng thời cũng giới thiệu đến người đọc về mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu của đề tài, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu và ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Chương 2 sẽ giới thiệu về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng của ngân hàng thương mại, trước hết chúng ta đi tìm hiểu về thẻ tín dụng và hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại NHTM, tìm hiểu về các loại rủi ro khi kinh doanh thẻ tín dụng cũng như nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và lược khảo các nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng của các ngân hàng thương mại.1 Tổng quan về thẻ tín dụng 2.1 Khái niệm thẻ tín dụng Thẻ tín dụng là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp. Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín (O’Sullivan, Arthur, Steven M.
Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng. Thay vào đó, ngân hàng sẽ ứng trước tiền cho người bán và chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch. Thẻ tín dụng cho phép khách hàng "trả dần" số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hàng tháng.
Tuy nhiên, chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn đã ghi rõ trên bảng sao kê. Thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với ngân hàng phát hành, hạn mức chi tiêu này được ngân hàng quy định cho từng chủ thẻ dựa trên khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc được đảm bảo bằng tài sản thế chấp.2 Phân loại thẻ tín dụng Phân loại theo phạm vi sử dụng thẻ : thẻ tín dụng nội địa; thẻ tín dụng quốc tế. 7 Phân loại theo đối tượng sử dụng: thẻ cá nhân; thẻ công ty. Phân loại theo công nghệ sản xuất: thẻ dập nổi (Embossed card); thẻ từ (Magnetic Stripe); thẻ thông minh (IC/Smart Card).
Chi tiết phân loại thẻ tín dụng được trình bày ở Phụ lục 1 2.3 Các đối tƣợng tham gia trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Tổ chức thẻ quốc tế; chủ thẻ; ngân hàng phát hành; ngân hàng thanh toán thẻ; đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT – Merchant). Chi tiết tham khảo tại Phụ lục 2 2.4 Đặc điểm, chức năng, vai trò của thẻ tín dụng Đặc điểm thẻ tín dụng (chi tiết tham khảo Phụ lục 1) Tính tiện ích;tính an toàn và nhanh chóng; tính linh hoạt; tính tín dụng. Vai trò của thẻ tín dụng Đối với chủ thẻ: chủ thẻ tín dụng không bị giới hạn bởi lượng tiền mặt mang theo người, có thể giải quyết được những nhu cầu phát sinh đột xuất. Chủ thẻ tín dụng được hưởng toàn bộ các đặc tính của thẻ tín dụng như tính tiện ích, tính an toàn, nhanh chóng, linh hoạt, tín dụng.
Chủ thẻ được hưởng một số dịch vụ khác do ngân hàng phát hành triển khai và áp dụng cho chủ thẻ như dịch vụ SMS banking thông báo ngay lập tức giao dịch thẻ tín dụng của khách hàng, dịch vụ bảo hiểm, y tế, trợ giúp toàn cầu. Đối với Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT): khi đơn vị kinh doanh chấp nhận thanh toán bằng thẻ sẽ tăng thêm uy tín cho đơn vị, cung cấp thêm cho khách hàng phương thức thanh toán nhanh chóng hiện đại từ đó khả năng thu hút tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng sẽ tăng lên giúp gia tăng doanh số, mở rộng thị trường và đạt lợi nhuận nhiều hơn. Mặt khác chấp nhận thanh toán bằng thẻ sẽ giảm thiểu rủi ro cho ĐVCNT trong việc hạn chế khách hàng sử dụng tiền giả, hạn chế nguy cơ mất cắp tiền, rút ngắn thời gian giao dịch với khách hàng một cách an toàn và chính xác hơn. 8 Ngoài ra việc trở thành đơn vị chấp nhận thẻ cũng là điều kiện cần thiết để các đơn vị kinh doanh này nhận được nhiều ưu đãi của ngân hàng như ưu đãi về tín dụng, lãi suất và các dịch vụ khác… Đối với ngân hàng: như chúng ta đã biết kinh doanh thẻ tín dụng là một trong những hoạt động của ngân hàng thương mại (chi tiết trình bày ở phụ lục 3) và những lợi ích mà thẻ tín dụng mang lại là làm gia tăng nguồn thu và lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu các loại phí và lãi thẻ tín dụng như thu phí phát hành, phí thường niên, phí chuyển đổi ngoại tệ, phí rút tiền mặt, lãi phát sinh khi khách hàng không thanh toán toàn bộ số dư sao kê… Thẻ tín dụng cũng góp phần đa dạng hóa sản phẩm của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng về một sản phẩm thanh toán tiện ích, hiện đại, nhanh chóng và an toàn.
Thẻ tín dụng còn góp phần hiện đại hóa ngân hàng, khi buộc ngân hàng phát hành không ngừng hoàn thiện nâng cao trang thiết bị kỹ thuật công nghệ qua đó đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng đồng thời nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường trong và ngoài nước. Đối với nền kinh tế - xã hội: thẻ tín dụng góp phần giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí in đúc, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm tiền đồng thời hạn chế được nạn tiền giả trong nền kinh tế. Góp phần hỗ trợ quản lý vĩ mô của Nhà nước, thông qua việc sử dụng thẻ, mọi giao dịch thanh toán đều diễn ra qua ngân hàng, nhờ đó nâng cao khả năng kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế của ngân hàng trung ương, góp phần điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và quản lý vĩ mô của Nhà nước. Thẻ tín dụng góp phần thực hiện kích cầu cho nền kinh tế, do dựa vào yếu tố tâm lý của chủ thẻ “chi tiêu trước, trả tiền sau” cũng như tác động từ các chương trình khuyến mãi giảm giá cho các đối tượng sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán hàng hóa dịch vụ.
Ngoài ra phát triển thẻ tín dụng và cơ sở hạ tầng đi kèm cũng như giúp hình thành môi trường thanh toán văn minh hiện đại hơn cho nền kinh tế của mỗi Quốc 9 gia, thu hút khách du lịch và nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện hết sức thuận lợi để kết nối các ngân hàng trong nước với các tổ chức thẻ quốc tế từ đó rút ngắn khoảng cách công nghệ ngân hàng hiện đại cũng như tạo niềm tin lớn hơn cho nhân dân về hoạt động của hệ thống ngân hàng.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn, chỉ có những tình trạng không chắc chắn có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới được xem là rủi ro (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Trong thuật ngữ tài chính, rủi ro là khả năng mất mát tài chính của ngân hàng. Rủi ro gắn liền với bất cứ hoạt động tài chính nào và cũng như bản thân các giao dịch tài chính đó cần được quản lý một cách đúng mực. Các ngân hàng có thể phải đối mặt với các tổn thất lớn nếu không quản lý chặt chẽ các rủi ro.
Rủi ro trong hoạt động thẻ là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất có liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành và hoạt động thanh toán thẻ. Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ hoặc ĐVCNT. Vì vậy mỗi ngân hàng cần phải quan tâm đặc biệt đến hoạt động quản lý rủi ro nói chung và hoạt động quản lý rủi ro kinh doanh thẻ tín dụng nói riêng.1 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng 2.1 Rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ Hồ sơ đăng ký thẻ giả: ngân hàng có thể phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng với những thông tin giả mạo đươc cung cấp qua hồ sơ, hợp đồng yêu cầu phát hành thẻ giả mạo nếu không thầm định kỹ thông tin. Điều này có thể dẫn đến rủi ro về tín dụng cho NHPHT khi chủ thẻ không có khả năng thanh toán hoặc có hành vi lừa đảo.
Thẻ bị lạm dụng khi chủ thẻ chƣa nhận đƣợc thẻ: rủi ro này phát sinh khi NHPHT gửi thẻ tín dụng cho chủ thẻ qua đường bưu điện và bị đánh cắp trên đường 10 gửi, thẻ bị sử dụng trong khi chủ thẻ không biết về việc thẻ đã được gửi cho mình. NHPHT có thể phải chịu rủi ro đối với loại giao dịch này. Thẻ bị đánh cắp, thất lạc: rủi ro xảy ra khi thẻ bị đánh cắp thất lạc và bị sử dụng trước khi chủ thẻ hoặc NHPHT phát hiện ra sự việc. Thẻ bị đánh cắp thất lạc cũng có thể bị tội phạm thẻ sử dụng thông tin làm thẻ giả như trường hợp thẻ giả.
Thẻ bị làm giả: thẻ giả là thẻ bị làm giả dựa trên các thông tin chủ thẻ có được từ việc đánh cắp dữ liệu trên băng từ của thẻ thật. Thẻ có thể được làm giả bao gồm thẻ trắng, thẻ bị dập nổi lại, thẻ bị mã hoá lại và thẻ bị làm giả hoàn toàn dựa trên các dữ liệu của thẻ thật. Đây là loại rủi ro chiếm tỷ lệ cao, thường được tội phạm thẻ sử dụng rộng rãi phổ biến nhất hiện nay.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ Rủi ro từ thẻ giả, chủ thẻ giả: rủi ro này xảy ra khi thẻ giả được thanh toán tại ĐVCNT; thẻ bị đánh cắp thất lạc dùng để thanh toán tại các ĐVCNT; gian lận trong môi trường thanh toán không xuất trình thẻ. Do bất cẩn hay cố ý trong quá trình sử dụng thẻ mà chủ thẻ để lộ thông tin về số thẻ, ngày hiệu lực thẻ, dãy số bảo mật (bao gồm 3 số cuối ở mặt sau thẻ)… từ đó người đánh cắp thông tin có thể sử dụng các thông tin có được để thanh toán online qua internet mà không cần phải xuất trình thẻ.
Rủi ro từ đơn vị chấp nhận thẻ Đại lý mở ra với mục đích gian lận: nhiều trường hợp ĐVCNT cấu kết với tội phạm để đánh cắp tiền của các chủ thẻ chứ không phải bị lừa hoặc vô tình tiếp tay.