Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả và thảo luận - Chương 5: Kết luận 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Khái niệm, nguyên nhân về rủi ro tín dụng và các tiêu chí đo lường Rủi ro ngân hàng được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Trong lĩnh vực ngân hàng, có thể chia thành nhiều loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro kỳ hạn. Đối với hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiếm từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng.
Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Vì thế, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu rủi ro tín dụng do hoạt động tín dụng là hoạt động trọng yếu của các NHTM Việt Nam. Rủi ro tín dụng theo định nghĩa của Ủy ban Basel là “khả năng một người vay hoặc đối tác không đáp ứng được nghĩa vụ của mình theo điều khoản thỏa thuận”. Theo quy định trong Quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Như vậy, có thể nói rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng tín dụng đã được kí kết giữa hai bên, biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi hết thời hạn vay các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.1 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Các nghiên cứu trước đây cho rằng có hai nhóm yếu tố giải thích sự thay đổi trong rủi ro tín dụng của ngân hàng: bao gồm các yếu tố bên ngoài và bên trong ngân hàng.
Yếu tố bên ngoài Berger và DeYoung (1997) đã lập luận sự gia tăng trong rủi ro do các yếu tố bên ngoài (chẳng hạn như các doanh nghiệp phá sản, nhà máy đóng cửa…) và theo sau đó là sự suy giảm trong hiệu quả, sự gia tăng trong rủi ro tín dụng có thể khiến các ngân hàng buộc phải chi tiêu với chi phí hoạt động cao hơn chẳng hạn như chi phí giám sát người đi vay. Các phát hiện này hàm ý rằng sự thất bại của các ngân hàng có thể được gây ra bởi các yếu tố bên ngoài, và chính sách và quy định có thể giảm thiểu các rủi ro này, chẳng hạn như một tỷ lệ vốn ngân hàng cao hơn có thể giảm thiểu cú sốc bên ngoài, hạn chế việc tập trung cho vay…. Trong các nghiên cứu gần đây, Reddy (2011) tìm thấy phát hiện tương tự khi cho thấy rằng rủi ro đạo đức, quản trị yếu kém đều có thể giải thích sự thay đổi trong rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Một nghiên cứu khác của Klein (2013) tiến hành phân tích các ngân hàng ở 16 quốc gia châu Âu, và tìm thấy rằng cả các yếu tố đặc điểm ngân hàng cũng như các yếu tố vĩ mô đều có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng.
Tác giả tìm thấy rằng các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ thất nghiệp cao, chính sách phá giá đồng nội tệ và lạm phát cao có thể dẫn đến sự gia tăng trong rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Skarica (2014) tìm thấy kết quả tương tự khi cho rằng tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng, nhưng tăng trưởng kinh tế lại có tác động ngược chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Messai và Jouini (2013) cũng tìm thấy cho thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ suy giảm nếu nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, trong khi đó tỷ lệ thất nghiệp, lãi 8 suất và chất lượng tín dụng thấp sẽ có tác động cùng chiều đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng ở Ý, Hy Lạp và Tây Ban Nha. Salas và Saurina (2002) đã nghiên cứu các ngân hàng tiết kiệm và thương mại ở Tây Ban Nha trong giai đoạn 1986 đến 1997 và tìm thấy rằng tăng trưởng kinh tế và rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều.
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, Macit (2012) đã giải thích rủi ro tín dụng của 15 ngân hàng lớn nhất từ năm 2005 đến năm 2010. Tác giả kết luận rằng các yếu tố vĩ mô có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Các yếu tố vĩ mô như thất nghiệp, lạm phát, nợ công đều làm gia tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng, trong khi đó tăng trưởng kinh tế càng cao sẽ làm giảm rủi ro tín dụng. Yếu tố bên trong Các yếu tố đặc điểm ngân hàng được xem như là các yếu tố bên trong ngân hàng và có tác động đáng kể đến rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt.
Những rủi ro từ chính bản thân ngân hàng có thể tổng hợp thành những nhóm nhân tố liên quan như sau: Năng lực tài chính Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu là hai chỉ tiêu đánh giá quy mô hoạt động của một ngân hàng thương mại, đồng thời nó cũng là hai chỉ tiêu giúp ngân hàng thể hiện được tiềm năng phát triển và tiềm lực kinh tế (Nguyễn Mạnh Hùng và Tạ Thu Hồng Nhung, 2016). Quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu là hai chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực tài chính của một định chế tài chính theo thông lệ quốc tế. Hai chỉ tiêu này là những chìa khóa đối với hiệu quả hoạt động của một ngân hàng. Tuy nhiên nó cũng là những tác nhân ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của định chế tài chính đó.
Một ngân hàng quy mô lớn có lợi thế cạnh tranh và cơ hội đa dạng hóa hoạt động của mình nên hạn chế rủi ro 9 (Demset và Strahan,1997), (Nguyễn Quốc Anh, 2016), (Lê Thị Thu Điềm, 2016). Nhưng Das và Ghost (2007) cho rằng quy mô càng lớn thì tâm lý chấp nhận rủi ro cao hơn và kết quả nợ xấu cao hơn trong tương lai. Một giải thích khác của Berger và De Young (1997), Park và Zhang (2012) liên quan đến quy mô nhỏ của ngân hàng, đó là ngân hàng nhỏ có thể chấp nhận rủi ro bằng cách tăng mức độ rủi ro của danh mục cho vay và đầu tư của mình, và kết quả nợ xấu cao hơn trung bình trong tương lai. Năng lực quản trị Quản trị lành mạnh là chìa khóa đối với hiệu quả hoạt động của một ngân hàng.
Tuy nhiên, nó cũng là tác nhân ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của định chế tài chính đó. Tiếp cận năng lực quản trị, nhiều công trình nghiên cứu đánh giá nhân tố hiệu quả chi phí thể hiện qua các chỉ số ROA, ROE (Berger và DeYoung (1997), Messai và Jouini (2013), Williams (2004); Fiordelisi và các cộng sự (2011), Podpiera và Weill (2008) Như trong nghiên cứu của mình, Berger và DeYoung (1997) tìm thấy mối tương quan giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả bằng cách nghiên cứu mẫu dữ liệu với 57655 quan sát các ngân hàng ở Mỹ trong giai đoạn 1985 – 1994. Kết quả của các tác giả khẳng định sự suy giảm trong hiệu quả của ngân hàng có thể làm cho ngân hàng đối mặt với rủi ro tín dụng trong tương lai. Điều này cho thấy rằng năng lực quản trị không chỉ thể hiện ở những khoản chi tiêu khác mà còn thể hiện ở các hoạt động giám sát và bảo lãnh yếu kém hơn mức cần thiết, và kết quả là mức nợ xấu ngân hàng có trong danh mục cho vay cao hơn, nói cách khác rủi ro tín dụng gia tăng Messai và Jouini (2013) đã nghiên cứu các ngân hàng ở Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp.
Các tác giả cũng tìm thấy khả năng sinh lợi ROA có ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng. Nói cách khác các ngân hàng có khả năng sinh lợi cao thì thường có khuynh 10 hướng giảm thiểu rủi ro tín dụng. Đồng thời, Williams (2004); Fiordelisi và các cộng sự (2011) cũng đã tìm thấy bằng chứng cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả của ngân hàng. Theo đó, các tác giả cho thấy rằng việc giảm hiệu quả của ngân hàng sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng trong tương lai của các ngân hàng.
Podpiera và Weill (2008) đã thực hiện nghiên cứu với dữ liệu dạng bảng các ngân hàng ở Séc và phân tích mối quan hệ nhân quả giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả của các ngân hàng ở thị trường mới nổi. Các tác giả tìm thấy rằng hiệu quả của ngân hàng càng yếu kém thì sẽ càng làm gia tăng rủi ro tín dụng và đóng vai trò quan trọng đối với các thương vụ phá sản của các ngân hàng.2 Cách đo lường rủi ro tín dụng Tỷ lệ Nợ xấu Rủi ro tín dụng có thể được đánh giá qua tỷ lệ nợ xấu. Đó là tỷ lệ giữa nợ xấu và tổng dư nợ (Shrieves và Dahl (1992); Park và Zhang (2012); Trần Hoàng Ngân và các cộng sự (2014)) Theo đó, Bolem và Freeman (2005) cho rằng một khoản vay là nợ xấu khi mà các khoản thanh toán lãi vay và/hoặc nợ gốc quá hạn kể từ 90 ngày trở lên so với ngày đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Định nghĩa này phù hợp với cách định nghĩa của Ghosh (2015) và Dimitrios và các cộng sự (2016).
Tại Việt Nam, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 24/4/2007 cùng Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 09/2014/TT-NHNN của NHNNVN nợ xấu được hiểu là những khoản nợ được xếp vào: 11 Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm: (i) nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) nợ được gia hạn trả nợ lần đầu; (iii) nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng; (iv) nợ được phân loại vào nhóm 3 theo kết quả phân loại của CIC.