Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm Có rất nhiều quan điểm được đặt ra để mô tả về RRTD của Ngân hàng, trong đó nổi bật nhất với tác giả có thể kể đến nghiên cứu của Timothy W. Koch và MacDonald S.
Với luận điểm cho rằng RRTD chính là một loại rủi ro tiềm ẩn xuất phát từ sự thay đổi của thu nhập thuần và thị giá khi người đi vay không thực hiện thanh toán đúng hạn. Tương tự với nghiên cứu của Thomas P. Fitch (1997), RRTD có thể coi là tổn thất phát sinh do người đi vay không hoàn trả được khoản vay theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ hoàn trả nợ. Ngoài ra, Theo Ủy ban Basel: ―RRTD hay còn gọi là rủi ro vỡ nợ, có thể phát sinh từ sự không chắc chắn đến từ người đi vay, khi khả năng thực hiện điều khoản trả nợ đã thỏa thuận của họ đối với Ngân hàng thất bại.‖ Tại Việt Nam, RRTD được cho là khả năng mà tổ chức tín dụng không thể thu hồi đúng hạn và đầy đủ các khoản tín dụng đã cung cấp (Trần Vũ Hải, 2008).
Ngoài ra, Nguyễn Thị Kim Nhung và cộng sự (2017) đã giải thích rằng RRTD là loại rủi ro xuất hiện khi khách hàng đi vay không thực hiện đúng cam kết trên hợp đồng tín dụng, nguyên nhân do khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hay không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay. Do đó, gây ra những tổn thất về tài chính cũng như khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại. Thế nhưng, với một góc nhìn mới, Anthony Saunders (2015) đã xem RRTD là một khoản lỗ tiềm năng mà Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng của mình. Điều này có nghĩa, luồng thu nhập mà Ngân hàng dự tính sẽ nhận từ những khoản vay này sẽ không thể đạt được cả về số lượng hay thời hạn.
Dựa vào các nhận định trên, tác giả đưa ra nhận định của mình đối với RRTD như sau: RRTD là loại rủi ro xảy ra chủ yếu trong hoạt động cấp tín dụng, phát sinh khi người đi vay thanh toán không đúng hạn hay không còn khả năng trả 8 nợ cho Ngân hàng như đúng thỏa thuận đã cam kết. Rủi ro này có tác động đáng kể nhất đến HQKD của Ngân hàng, và là chỉ số quan trọng phản ánh được sức khỏe tài chính của các tổ chức tín dụng. Vì vậy, trong giai đoạn nền kinh tế toàn cầu đang có những khủng hoảng, nếu để cho RRTD xảy ra sẽ đem lại hậu quả nghiêm trọng dẫn đễn nguy cơ khó lường về việc mất đi sự cân đối và ổn định cho các hệ thống NHTM. Nguyên nhân dẫn đến RRTD ở các NHTM hiện nay đến từ rất nhiều yếu tố.
Trong đó, Ghosh (2012) tin rằng RRTD đến từ cả yếu tố nội sinh lẫn yếu tố ngoại sinh của Ngân hàng. Cụ thể, khi các chỉ số kinh tế bắt đầu suy yếu sẽ khiến nền kinh tế thị trường gặp khó khăn và tăng trưởng chậm lại. Hệ lụy không thể tránh khỏi đó là nguồn thu nhập của người đi vay sẽ không còn ổn định như trước, nguồn thu giảm và khả năng vỡ nợ gia tăng. Bởi khi có sự biến động trên thị trường, làm cho khối lượng sản phẩm và doanh thu giảm xuống dẫn đến các nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ cũng giảm theo, đặc biệt gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị tín dụng của Ngân hàng một cách đáng kể.
Mặt khác, RRTD còn xảy ra do các yếu tố từ phía NHTM, khi tổ chức quản lý tín dụng không hiệu quả hoặc không có những phương án đối phó từ trước nhằm đề phòng các yếu tố rủi ro bất ngờ xảy ra. Một nguyên nhân quan trọng có thể tác động đến HQKD của Ngân hàng xuất phát từ phía người đi vay. Việc xuất hiện những rủi ro khi quản lý tài chính không cân đối, công việc kinh doanh giảm hiệu suất và chất lượng do thiếu kinh nghiệm sẽ tất yếu khiến cho thu nhập của người đi vay không còn ổn định và dẫn đến tình trạng vỡ nợ. Tuy nhiên, ngoài những yếu tố khách quan trên thì thái độ phi đạo đức của người đi vay khi cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình cũng là nguyên nhân chính gây nên RRTD cho các NHTM hiện nay.
Các chỉ tiêu đo lƣờng Rủi ro tín dụng Qua đó, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm cách đo lường RRTD để đưa ra phương án giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực mà nền kinh tế thị trường phải 9 hứng chịu. Trong đó, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ trích lập dự phòng là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá và đo lường mức độ RRTD của một Ngân hàng. 10 Tỷ lệ nợ xấu Đỗ Thị Thu Hà (2013) đã đo lường RRTD bằng việc tiếp cận các chỉ tiêu như hệ số nợ quá hạn, hệ số nợ xấu hay rủi ro mất vốn, … Qua đó, nợ xấu được cho là chỉ tiêu trực tiếp gây ra RRTD. Tương tự, Ongore & Kusa (2013) và Phạm Hồng Hữu Thái (2017) cũng cho rằng thông qua tỷ lệ nợ xấu thì các nhà quản trị có thể đo lường và đánh giá RRTD từ các NHTM.
Nếu nợ xấu gia tăng thì RRTD xảy ra càng cao, bởi nếu người đi vay không trả được khoản nợ của mình thì Ngân hàng sẽ mất vốn dẫn đến suy giảm doanh thu và lợi nhuận. Vì vậy, các nghiên cứu trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa về nợ xấu. Theo Petersson & Wadman (2004), họ cho rằng các khoản vay mà Ngân hàng không thể thu hồi lợi nhuận chính là nợ xấu; hoặc nợ xấu là những khoản vay không hoản trả được Mohd Isa và cộng sự (2015). Căn cứ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN phân loại nợ, trích lập, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung thì nợ xấu là những khoản nợ thuộc từ nhóm từ 3 trở xuống.
Trong đó, nhóm 3 sẽ là những nhóm nợ dưới tiêu chuẩn và quá hạn thanh toán từ 90 ngày. Nhóm 4 sẽ bao gồm những khoản nợ quá hạn từ 181 ngày. Đặc biệt, những khoản nợ có nguy cơ mất vốn cao và quá hạn trên 360 ngày sẽ thuộc vào nợ nhóm 5. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu được xác định bằng cách: Nợ ấu T lệ nợ ấu *100 Tổng dƣ nợ tín dụng Khi tỷ lệ nợ xấu càng lớn, chất lượng tín dụng của Ngân hàng sẽ càng thấp dẫn đến nguy cơ xảy ra RRTD là khá cao.
Điều này đồng nghĩa với việc Ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ cao bị giảm doanh thu và lợi nhuận do khách hàng không trả được khoản vay của mình. Tuy nhiên, nếu giảm thiểu được tỷ lệ nợ xấu thì chất lượng khoản vay có thể được cải thiện thông qua các chính sách như xóa nợ xấu hay thay đổi cách phân loại nợ. 11 T lệ trích lập dự phòng Bên cạnh những luồng quan điểm cho rằng việc đo lường RRTD theo phương pháp truyền thống là tỷ lệ nợ xấu sẽ thuận tiện và chính xác hơn, nhiều bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức trích lập dự phòng RRTD cũng là một yếu tố giúp các nhà quản trị đánh giá được mức độ RRTD của Ngân hàng song song với tỷ lệ nợ xấu. Qua đó có thể hiểu, dự phòng RRTD là những khoản tiền được trích ra để phòng ngừa cho những chi phí thiệt hại có thể xảy ra khi khách hàng không hoàn trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết.
Tỷ lệ này sẽ được hạch toán thẳng vào các chi phí hoạt động của Ngân hàng, điều này đồng nghĩa việc trích lập dự phòng sẽ gây tác động trực tiếp đến lợi nhuận của Ngân hàng. Dựa trên nghiên cứu của Fisher và cộng sự (2000), kết quả cho thấy dự phòng RRTD có mối tương quan cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng. Việc trích lập dự phòng RRTD càng cao thì chất lượng của khoản vay càng giảm, dẫn đến RRTD gia tăng. Vì vậy, ngày nay càng nhiều nghiên cứu đã lựa chọn sử dụng thước đo này phổ biến hơn.
Trong đó, theo nghiên cứu của Heffernan (2008) và Aremu & Ayanda (2013) thì tỷ lệ dự phòng RRTD được xác định bằng cách: Dự phòng RRTD T lệ trích lập dự phòng RRTD *100 Tổng vốn CSH Tỷ lệ trích lập dự phòng càng cao thì khả năng Ngân hàng dự phòng rủi ro sẽ cao, giúp nhà quản trị chủ động kiểm soát những tổn thất và bù đắp cho RRTD trong quá trình hoạt động kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm Có nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh của NHTM. Trong đó, HQKD là khái niệm nhằm phản ánh năng lực tận dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được mục tiêu cao nhất với chi phí thấp nhất, có thể hiểu là tối thiểu hóa chi phí.
Theo đó, Giáo trình Quản trị kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân đã viết rằng HQKD là một phạm trù phản ánh được trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu kinh 12 doanh đã xác định. Theo đó, chỉ doanh nghiệp kinh doanh nhắm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận mới cần đánh giá HQKD. Có thể nói, đây là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự phát triển của Ngân hàng, bởi khi có một quá trình kinh doanh hiệu quả thì mới tạo ra nhiều lợi nhuận, nâng cao chất lượng và thu hút khách hàng. Do đó, HQKD chính là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quá trình hoạt động của các Ngân hàng.Tương tự vậy, với góc nhìn của mình, Farrell (1957) tin rằng HQKD là lợi ích được mang lại từ những hoạt động cụ thể, là phạm trù được sử dụng để đánh giá khả năng tối đa hóa doanh thu khi đã biết chi phí đầu vào, thông qua hai chỉ tiêu đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối.
Ngoài ra, với Nguyễn Việt Hùng (2008) thì HQKD của NHTM có thể được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Một là xác suất an toàn khi Ngân hàng thực hiện kinh doanh và hai là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào giúp tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh.