Chương 1: Cơ sở lý luận về ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn. Chương 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Sài Gòn. z 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín dụng và rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái quát về hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại Theo Nguyễn Văn Tiến (2005) thì tín dụng là một quan hệ giữa các bên về việc vay mượn một tài sản, gồm tài sản thực, tài sản tài chính hay uy tín. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng một khoản tiền vốn nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc có hoàn trả, có mục đích, có bảo đảm bằng các hình thức khác nhau, bao gồm cả tín chấp, lòng tin lẫn nhau,… Khi NHTM chính thức ra đời và phát triển, tín dụng thực sự là hoạt động chính, được xem như một chức năng cơ bản. Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thái xã hội khác nhau.
Hiểu một cách thông thường nhất, tín dụng là vay mượn. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. Theo Nguyễn Minh Kiều (2012) thì tín dụng, theo tiếng Latinh gọi là creditium, tiếng Anh gọi là credit, có nghĩa là sự vay mượn. Về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Theo Bùi Diệu Anh (2013) thì tín dụng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Văn bản hợp nhất Luật các TCTD năm 2017 (Số: 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017) thì một số thuật ngữ có liên quan được quy định như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả z 2 bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ những nội dung trình bày ở trên, thì tín dụng ngân hàng được hiểu như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn (gốc) và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại: Theo cách hiểu của các Ngân hàng Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Văn bản hợp nhất số 22/VBHN- NHNN ngày 04/06/2014). Khái niệm RRTD của Ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng đựợc cho là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo Nguyễn Minh Kiều (2011): RRTD là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như vậy ta có thể tóm lược RRTD là việc bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Ảnh hƣởng của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng thƣơng mại: Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi được vốn và lãi cho vay, làm mất cân đối thu chi và giảm thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Ngoài ra ngân hàng còn phải tốn nhiều chi phí liên quan cho việc xử lý các khoản nợ xấu này. Các chi phí tăng thêm có thể kể đến như: chi phí giám sát những khách hàng quá hạn và các tài sản thế chấp của họ; chi phí thỏa thuận với khách hàng về các khoản vay này; chi phí duy trì và xử lý tài sản đảm bảo; chi phí liên quan đến việc bảo vệ danh tiếng và sự an toàn của ngân hàng; chi phí tăng thêm để đảm bảo chất lượng của các khoản cho vay khác. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, uy tín, quy mô hoạt động, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
RRTD làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà cón làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Khi đó ngân hàng sẽ phải huy động vốn trên thị trường với lãi suất cao để đảm bảo khả năng thanh toán. Nếu tình trạng này kéo dài ngân hàng sẽ bị thiệt hại nặng có thể dẫn đến nguy cơ phá sản.
RRTD làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn khác nhau dẫn đến uy tín của ngân hàng bị sụt giảm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của người gửi tiền làm cho việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn, giảm khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác. Với việc sụt giảm uy tín và năng lực cạnh tranh thì sẽ dẫn đến việc nguồn nhân lực chất lượng của ngân hàng chuyển sang làm cho các ngân hàng khác.
Đồng thời việc tìm kiếm nguồn nhân sự chất lượng để thay thế gặp khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các tiêu chí đo lƣờng rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại: Các chỉ tiêu đo lường RRTD tại NHTM có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó trực tiếp phản ánh RRTD của ngân hàng, với mục đích nhầm đánh giá hoạt động tín z 4 dụng nói chung và quản trị RRTD nói riêng, các ngân hàng thường sử dụng các nhóm chỉ tiêu định lượng và định tính sau đây: 1. Tiêu chí định lƣợng a) Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dƣ nợ vay: Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả được toàn bộ gốc hay một phần tiền gốc hoặc tiền lãi. Nợ quá hạn thường được hiểu là biểu hiện của sự yếu kém về tài chính của khách hàng và là dấu hiệu cảnh báo RRTD cho ngân hàng.
Công thức tính tỷ lệ nợ quá hạn: Tổng nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ quá hạn và đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng, khi 100 đồng cho vay thì đang có bao nhiêu đồng là quá hạn. Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như RRTD tại ngân hàng. Khi tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém và ngược lại. Tuy nhiên chỉ tiêu này chưa phản ánh chính xác được mức độ rủi ro, vì không phải khoản nợ quá hạn nào cũng là nợ không thu hồi được.
Vì thế tỷ lệ này chỉ là chỉ tiêu gián tiếp để đo lường RRTD. b) Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dƣ nợ vay: Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể dẫn đến việc không hoàn trả nợ của người đi vay. Nợ xấu làm nguyên nhân gia tăng RRTD trong khi ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi của khoản vay. Nợ xấu càng cao thì khả năng xảy ra RRTD sẽ càng lớn.
Theo Basel thì nợ xấu được xác định khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng nhận thấy người vay không đủ khả năng trả nợ hoặc người z 5 vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Nợ xấu là nguyên nhân gia tăng RRTD trong trường hợp ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi của khoản vay. Đây là tiêu chí trực tiếp phản ánh mức độ RRTD. Theo Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 của Ngân hàng Nhà nước về “Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm: nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).
Công thức tính tỷ lệ nợ xấu: Tổng nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ Chỉ tiêu này thể hiện tình hình kinh doanh, mức độ RRTD cũng như hiệu quả tín dụng của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp thì chất lượng của hoạt động tín dụng càng cao, RRTD càng được giảm thiểu và ngược lại. c) Tỷ trọng dƣ nợ một ngành/một nhóm khách hàng so với tổng dƣ nợ: Công thức tính tỷ trọng dư nợ một ngành/ một nhóm khách hàng so với tổng dư nợ: Tổng dư nợ một ngành/một nhóm khách hàng Tỷ trọng dư nợ = x 100% Tổng dư nợ Chỉ tiêu này giúp xác định được mức độ tập trung RRTD của ngân hàng.