CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NGÂN HÀNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NGÂN HÀNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 1. Kiểm toán nhà nước 1.
Khái niệm kiểm toán Kiểm toán xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước công nguyên và gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại. Đến những năm 30 của thế kỷ XX, kiểm toán với ý nghĩa là kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến mới được phát triển ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu. Theo Kiểm toán nhà nước Vương quốc Anh (NAO) thì: " Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan”. Với khái niệm này, các nhà khoa học ở Anh quan niệm kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính của kiểm toán viên theo nghĩa vụ pháp định.
Theo cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa kỳ (Văn phòng Trách nhiệm giải trình Chính phủ (GAO) của Hoa Kỳ thì "Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập". Theo khái niệm này thì không những khẳng định sự kiểm tra độc lập của kiểm toán viên mà còn phải có nghiệp vụ. Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International Federation of Accountants –IFAC) thì “ Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”.Rens và James K.Loebbecker (1997) thì: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các luan an 11 thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”. Theo John Dunn (1996) thì: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung”.
Có thể nói mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán. Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán mới xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, với sự ra đời của các công ty kiểm toán và tư vấn tài chính trực thuộc Bộ Tài chính. Ngày 11/7/1994 cơ quan KTNN được thành lập đã ghi nhận sự phát triển của hệ thống kiểm toán ở Việt Nam. Thuật ngữ kiểm toán đã được nhiều nhà kinh tế học bàn tới, trong đó nổi bật là các khái niệm kiểm toán của Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế toán Kiểm toán của trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đề cập rằng: “Kiểm toán là một quá trình do Kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập tiến hành nhằm thu thập bằng chứng về những thông tin có thể định lượng của một tổ chức và đánh giá chúng nhằm thẩm định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập”.
Theo tác giả: Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng. Căn cứ theo loại hình tổ chức, kiểm toán được chia thành: KTNN, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. KTNN là cơ quan Kiểm tra tài chính tối cao của quốc gia, thực hiện việc kiểm tra và báo cáo về việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước ở các đơn vị. Kiểm toán nội bộ được tổ chức bên trong mỗi đơn vị, thực hiện kiểm tra và cho ý kiến về các đối tượng được kiểm toán nhằm giúp đơn vị thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Kiểm toán độc lập được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp kiểm toán, công ty hay hãng kiểm toán nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có tính chuyên môn cho xã hội. Trong nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về KTNN, các hoạt động của KTNN luan an 12 trong việc kiểm toán các NHTM tại Việt Nam. Hoạt động kiểm toán nhà nước Theo Luật kiểm toán số 81/2015/QH13 mục 5 điều 3 thì hoạt động kiểm toán của KTNN là việc đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin tài chính nhà nước, tài sản nhà nước hoặc BCTC liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính nhà nước, tài sản nhà nước; việc chấp hành pháp luật và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài chính nhà nước, tài sản nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước Theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Luật KTNN 2015 thì KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính nhà nước, tài sản nhà nước.
Nhiệm vụ của KTNN là Lập kế hoạch và Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hằng năm báo cáo Quốc hội trước khi thực hiện. Trình ý kiến của KTNN để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương và các chương trình mục tiêu quốc gia. KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề có liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội. Về nguyên tắc, các cơ quan kiểm toán tối cao phải đạt được các mục tiêu kiểm toán, bao gồm: tính hợp pháp, tính tuân thủ, tính kinh tế, đúng mục đích và tính tiết kiệm ngang bằng như nhau.
Ngân hàng và hoạt động kiểm toán ngân hàng của Kiểm toán nhà nước 1. Ngân hàng nhà nước Ngân hàng trung ương: NHTW là định chế có nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát tiền tệ và hệ thống ngân hàng của một quốc gia. NHTW cũng có thể được giao những nhiệm vụ khác tùy theo cơ cấu và môi trường tài chính của đất nước. Ngân hàng thương mại nhà nước: Theo quy định tại điều 6 Luật các TCTC số 47/2010/QH12 về tổ chức và hoạt động của NHTM, khái niệm NHTM nhà nước được trình bày là: “Ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ”.
Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam: luan an 13 Theo Quyết định 131/2002/QĐ-TTg thì NHCSXH là TCTD thuộc Chính phủ Việt Nam nhằm mục đích cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Khác với NHTM, NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Chính phủ Việt Nam bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng là 0%; Ngân hàng không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp NSNN. Hoạt động kiểm toán ngân hàng Khái niệm: Hoạt động kiểm toán ngân hàng là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một ngân hàng nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng (Theo Luật kiểm toán số 81/2015/QH13) KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính từ bên ngoài: Cơ quan KTNN là một tổ chức kiểm tra từ bên ngoài, nằm ở bên ngoài các hoạt động tài chính - NSNN và nằm ngoài các đơn vị được kiểm toán. Điều này đảm bảo cho cơ quan kiểm tra và được kiểm tra không đồng nhất với nhau và giữ được một khoảng cách tối thiểu nhất định giữa họ với nhau, nhằm bảo đảm tính độc lập về mặt nghiệp vụ và thiết chế của KTNN.
Đây là đặc điểm nổi bật phân biệt giữa hoạt động của KTNN với hoạt động thanh tra nhà nước, thanh tra tài chính, kiểm toán nội bộ. Đặc điểm của hoạt động kiểm toán ngân hàng: Hoạt động kiểm toán đối với các đơn vị được kiểm toán là ngân hàng ngoài những đặc điểm chung của hoạt động kiểm toán của KTNN còn có các đặc thù mà chỉ riêng có tại các ngân hàng, cụ thể: + Kiểm toán việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toán và quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước liên quan đến hoạt động ngân hàng; + Tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn, tiền và tài sản nhà nước trong hoạt động ngân hàng. Các chuẩn mực kiểm toán ngân hàng: Chuẩn mực kiểm toán nhà nước được ban hành cho tất cả các loại hình hoạt động của KTNN. Do đó, chuẩn mực kiểm toán lĩnh vực ngân hàng cũng được áp dụng luan an 14 chung các chuẩn mực của KTNN.
Khái niệm: Theo Điều 6 Luật KTNN sửa đổi bổ sung năm 2015 thì “Chuẩn mực kiểm toán nhà nước là những quy định và hướng dẫn về yêu cầu, nguyên tắc, thủ tục kiểm toán và xử lý các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động kiểm toán mà Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ khi tiến hành hoạt động kiểm toán; là cơ sở để kiểm tra, đánh giá chất lượng kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước. Tổng Kiểm toán nhà nước xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”. - Chuẩn mực kiểm toán nhà nước Việt Nam: Hệ thống chuẩn mực KTNN chỉ quy định những nguyên tắc, yêu cầu và nội dung cơ bản trong hoạt động kiểm toán của KTNN (cấp độ 3); KTNN đã ban hành riêng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên nhà nước là Chuẩn mực KTNN số 30 Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 01/2014/QĐ-KTNN ngày 07 tháng 5 năm 2014 của Tổng Kiểm toán Nhà nước.