Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, bố cục đề tài. Tổng quan này sẽ giúp hiểu rõ hơn về phân tích trong các chương sau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm Tín dụng và Rủi ro Tín dụng 2.1 Khái niệm Tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) xác định quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định được gọi là tín dụng ngân hàng. Theo cách hiểu khác, Bùi Diệu Anh (2012) cho rằng tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (là ngân hàng hoặc TCTD khác) chuyển giao tài sản cho bên nhận tín dụng (là doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo quy tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Có thể thấy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả lợi tức, thỏa mãn nhu cầu của hai bên, công bằng và cùng có lợi. Căn cứ vào chủ thể tham gia thì tín dụng có các loại hình như tín dụng ngân hàng, tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại và tín dụng tiêu dùng. Trong đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế vì nó cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích, dễ tiếp cận và mang nhiều đặc trưng riêng. Từ những nội dung trên, theo quan điểm của tác giả “Tín dụng là việc ngân hàng cho khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể khác) sử dụng một lượng giá trị (hàng hóa hoặc tiền tệ) trên nguyên tắc hoàn trả lại một lượng giá trị cao hơn ban đầu kèm theo một số điều kiện được 2 bên đồng ý thỏa thuận bằng văn bản, cam kết trong một thời gian nhất định”.2 Ưu điểm nổi bật của tín dụng Tính linh hoạt, khả năng thoả mãn nhu cầu vốn, khả năng phục vụ đa dạng các ngành kinh tế là những ưu điểm nổi bật nhất của tín dụng.
Do đó, phạm vi tiếp cận của tín dụng rất rộng. Cho vay chủ yếu bằng nguồn vốn đi vay trong nền kinh tế như tiền gửi của cá nhân, tổ chức. 8 Thời hạn cho vay và nhận tiền gửi rất đa dạng, bao gồm: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc đáp ứng lượng vốn tối đa là khả thi vì các tổ chức tài chính đóng vai trò luân chuyển vốn trong nền kinh tế.3 Khái niệm Rủi ro Tín dụng Rủi ro có thể tồn tại dưới nhiều hình thức trong quá trình hoạt động của ngân hàng bao gồm rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro tiền mặt, rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá hối đoái.
Theo Khoản 13 Điều 3 TT 13/2018/TT-NHNN ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2018, rủi ro trọng yếu bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất trên số ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; rủi ro thanh khoản, rủi ro tập trung; các rủi ro phát sinh từ hoạt động trọng yếu. Anthony Sauders (2010) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Theo Nguyễn Kim Anh (2010) “RRTD phải được hiểu ở cả 2 góc độ đó là rủi ro trong huy động vốn và rủi ro trong cho vay; trong đó rủi ro trong cho vay là khoản tổn thất phát sinh khi cấp tín dụng cho khách hàng mà chỉ thu được một phần gốc lãi hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn, hoặc không thu được gốc và lãi” Ủy ban Basel quan niệm rủi ro tín dụng là khả năng người vay hoặc đối tác không đáp ứng được trách nhiệm của họ theo các điều khoản đã thỏa thuận. Hoạt động tín dụng đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng cũng như uy tín và sự tồn tại của toàn bộ hệ thống NHTM.
Do hoạt động tín dụng đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng cũng như uy tín và sự tồn tại liên tục của toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại nên quản trị rủi ro tín dụng là một vấn đề quan trọng và đáng quan tâm. Với những thông tin nêu trên, nhận thức của tác giả về rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng sẽ bị thua lỗ nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết hoặc 9 thực hiện không đầy đủ dẫn đến khoản vay khó thu hồi hoặc có khả năng mất vốn. Rủi ro tín dụng sẽ làm tăng chi phí và giảm thu nhập của ngân hàng. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng còn là mối lo ngại cho hoạt động ngân hàng vì nó là một trong các rủi ro trọng yếu, ảnh hưởng đến sự tồn tại của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.4 Phân loại rủi ro tín dụng a) Căn cứ vào nguyên nhân Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro xảy ra trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay.
Rủi ro danh mục: là mối nguy hiểm do ngân hàng không có khả năng quản lý danh mục cho vay của mình. Rủi ro tác nghiệp: Theo Hiệp ước vốn Basel II: “Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài. Rủi ro tác nghiệp bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín”. b) Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro không thanh toán đúng hạn là rủi ro này phát sinh khi khách hàng không thanh toán đúng hạn như cam kết ban đầu trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay, khế ước nhận nợ.
Rủi ro mất khả năng chi trả là rủi ro xảy ra khi khách hàng không còn khả năng trả nợ. Lúc này ngân hàng phải thanh lý tài sản đảm bảo để thu nợ vay. Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay xảy ra ở các nghiệp vụ bảo lãnh, cam kết, đồng tài trợ. Rủi ro mất khả năng chi trả là rủi ro khách hàng không trả được nợ.
Để thu nợ vào thời điểm này, ngân hàng phải thanh lý tài sản thế chấp.5 Nguyên nhân gây ra Rủi ro Tín dụng a) Các yếu tố bên ngoài ngân hàng Bối cảnh kinh tế, xã hội và pháp lý: Khi nền kinh tế bất ổn, chẳng hạn như khi thay đổi chính sách, môi trường chính trị bất ổn hoặc thảm họa kinh tế, rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Trong quá trình hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, nhiều doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh khốc liệt, dẫn đến hoạt 10 động không hiệu quả, thậm chí mất khả năng chi trả. Như vụ án Huỳnh Thị Huyền Như (2011) chiếm đoạt hơn 4.911 tỷ đồng của VietinBank là vụ án nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành ngân hàng Việt Nam, cho thấy lỗ hổng pháp luật và trình độ quản lý còn yếu kém. Yếu tố thị trường: Khi giá cả hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt là các nguyên vật liệu đầu vào chủ lực biến động thì sẽ làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp khó khăn, có thể sẽ mất khả năng trả nợ gây rủi ro tín dụng.
Trên thị trường chỉ cần một vài biến động nhỏ thôi cũng có thể gây ra những rủi ro cho ngân hàng vì ngân hàng là ngành nghề kinh doanh nhạy cảm liên quan đến hàng hóa - tiền. Từ phía khách hàng: Khách hàng vay vốn và sử dụng sai mục đích ban đầu cam kết hoặc kế hoạch kinh doanh không hiệu quả dẫn đến nợ phải trả tăng lên, trong đó có nợ vay ngân hàng. Một công ty hoạt động kém hiệu quả có thể do kỹ năng, quản lý kém, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn, tỷ lệ nợ trên vốn cao và sản phẩm không đáp ứng nhu cầu thị trường. Trong đó, thiện chí trả nợ là một yếu tố quan trọng bởi nếu DN có đủ tiềm lực tài chính nhưng không có ý định trả nợ sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng.
b) Các yếu tố bên trong ngân hàng Nguồn lực (yếu tố con người và kỹ thuật): Kỹ năng và chuyên môn của cán bộ tín dụng là đặc trưng của yếu tố con người. Việc thẩm định, phân tích và lựa chọn đầu tư vào các dự án kém hiệu quả do không có đủ kỹ năng chuyên môn và bằng cấp sẽ gặp rủi ro tín dụng. Ngoài ra, kỹ năng phân tích kém và thiếu chuyên môn của nhân viên tín dụng khiến họ đưa ra những quyết định sai lầm liên quan đến các dự án lớn cần nhiều thời gian để thẩm định. Chất lượng của các quyết định cho vay cũng sẽ bị ảnh hưởng do thiếu nguồn nhân lực, nhiều tài liệu cần xử lý nhưng thời gian phản hồi của nhân viên chậm.
Bên cạnh đó, một khía cạnh khác cần xem xét là đạo đức của cán bộ tín dụng. Rủi ro tín dụng cũng là hậu quả của công nghệ thông tin và phương pháp lạc hậu. Rủi ro sẽ thấp hơn khi hệ thống cải tiến hiện đại hơn. Chính sách tín dụng của ngân hàng: Các nỗ lực quản lý rủi ro đã bị hạn chế do năng lực kiểm soát nội bộ kém.
Quy trình, pháp luật, chính sách tín dụng của 11 Ngân hàng Nhà nước và NHTM là nền tảng cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Nguyên nhân xuất phát từ việc NHTM vi phạm các quy định, bao gồm trích lập dự phòng rủi ro không đúng cách, sai phương thức cho vay, phân loại nợ không đúng và sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Chính sách tín dụng không hợp lý, chú trọng vào các khoản vay lớn nhiều rủi ro, chạy đua lợi nhuận chỉ chú trọng vào tài sản đảm bảo mà không cân nhắc đến khả năng tài chính và phương án kinh doanh của doanh nghiệp. Thiếu kiểm tra, theo dõi sau khi cho vay: Sau khi đã giải ngân, phần lớn các NHTM ít quan tâm đến việc theo dõi, kiểm tra khoản vay.
Do đó, khách hàng có thể sử dụng vốn không đúng mục đích, ngân hàng không kịp thời nhận diện rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng, dễ dẫn đến rủi ro sau cho vay.