chương 1 tác giả đa trình bày các mô hình cũng như phương pháp thưc hiện như thế nào trong các chương sau. Tiếp theo, trong chương 2 tác giả đề câp đến các khái niệm, nguyên nhân cũng như các yếu tô nhằm đo lường rủi ro tín dụng, đồng thời tác giả đề câp về các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC. Khái niệm về rủi ro tín dụng Là hoạt động chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu doanh thu của ngân hàng vì thế mà rủi ro của hoạt động của tín dụng cũng cao không kém vì thế rủi ro tín dụng vô cùng được các nhà quản trị quan tâm. Đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2021 đến hiện nay thì rủi ro tín dụng lại càng được quan tâm nhiều hơn khi chứng kiến sư sụp đổ của nhiều ngân hàng lớn trên thế giới nói chung và vụ việc của ngân hàng SCB nói riêng trong nước ta.
Có rất nhiều định nghĩa khi nói về rủi ro tín dụng như theo Joel Bessic (2015) trong Risk management in banking thì rủi ro tín dụng là việc những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sư giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay. Theo Hempel & Simonson (2001) cho rằng RRTD là: “Rủi ro khi một phần lai hay gôc hay cả gôc và lai của khoản vay không được thanh toán như đa cam kết. Sư tồn tại và khả năng cạnh tranh của ngân hàng phụ thuộc hầu hết vào năng lưc quản lí RRTD để sinh lời”.Fitch (1893) thì RRTD lại là: “Loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoa thuân hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lai suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2005) thì RRTD là: “Rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gôc và lai của khoản vay hoặc việc thanh toán không thể gôc và lai đúng kì hạn”. Theo Hồ Diệu (2003) thì RRTD là: “Nguy cơ mà người vay không thể chi trả tiền lai hoặc không hoàn trả gôc so với thời gian ấn định trong hợp đồng tín dụng.” 7 Theo Uy ban Basel về giám sát ngân hàng thì “Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra tổn thất xuất phát từ sư vi phạm bởi người vay hoặc đôi tác” (Bank for International Settlements/BIS, 2001). Còn tại Việt Nam được quy định rủi ro tín dụng theo Thông tư 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013 của ngân hàng nhà Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lâp dư phòng rủi ro và việc sử dụng dư phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhanh ngân hàng nước ngoài rằng: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đôi với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thưc hiện hoặc không có khả năng thưc hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Từ những phát biểu trên, tưu chung lại RRTD là loại phát sinh trong quá trình cung cấp tín dụng của ngân cho cá nhân, tổ chức nhưng không được hoàn trả đúng hạn. Và đây cũng chính là rủi ro trọng yếu tác động đến lợi nhuân cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đặc biệt hơn là trong điều kiện tài chính không quá tôt như hiện tại khi tình hình địa chính trị của các quôc gia không tôt, môi trường lai suất của thế giới đang trong mức cao, chi phí đầu vào của hàng hóa cao khiến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp không mấy khả quan dẫn đến là các doanh nghiệp khó khăn trong việc trả nợ dẫn đến tăng nợ xấu tại các ngân hàng từ đó tạo các hệ quả vô cùng nghiêm trọng cũng như phá vỡ sư ổn định của nhóm NHTM.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 2. Nguyên nhân từ vĩ mô Trong những năm gần tình hình vĩ mô vô cùng bất lợi, từ sau khi dịch covid đi qua, hâu quả mà dịch để lại đa tác động vô cùng mạnh me lên nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Điển hình như ở Mỹ việc vung tiền quá mức trong thời gian dịch covid đa khiến cho Mỹ gặp phải lạm phát buộc nước này phải dùng các chính sách diều hâu bằng cách là FED tăng lai suất liên tục từ 0.75% vì thế tỷ giá của VND và USD chênh lệch khiến NHTW buộc phải ra biện pháp để “níu” lại tỷ giá cũng vì thế mà các doanh nghiệp có nợ bằng USD điêu 8 đứng và gặp khó khăn trong việc trả nợ. Chưa dừng lại ở đó thì nhu cầu tiêu dùng của người dân bị suy giảm khiến cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp không chỉ không được mở rộng mà con phải thu hẹp từ đó ảnh hưởng đến doanh thu.
Bên cạnh yếu tô tỷ giá và lạm phát thì còn sư leo thang của giá dầu bởi chiến tranh Nga - Ukraine làm biến động của giá cả, đặc biệt là giá cả nguyên vât liệu, nguyên vât liệu đầu vào như thép, sắt, xăng dầu,… cũng tăng mạnh đáng kể từ đó tác động đến việc tiến độ triển khai dư án, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoàn trả nợ cho ngân hàng mà gián tiếp ảnh hưởng xấu lên hoạt động tín dụng của ngân hàng. Ngoài ra các chỉ sô trên còn có những nguyên nhân tiềm ẩn từ thị trường hàng hóa, thị trường xuất khẩu, các quôc gia có quan hệ thương mại với nước ta mà cũng chứa đưng rủi ro đến hoạt động tín dụng của NHTM. Bên cạnh đó thì còn có nguyên nhân từ tình hình chính trị của quôc gia vì khi một quôc gia có môi trường chính trị không ổn định se khiến tâm lý nhà đầu tư trong nước cũng như ngoài nước không an tâm và không sẳn sàng đầu tư. Điều này làm ảnh hưởng đến nguồn cung tín dụng và cầu tín dụng của ngân hàng từ đó làm hoạt động tín dụng của ngân hàng không thuân lợi dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng se tăng cao.
Bên cạnh đó, các chính sách vĩ mô không phù hợp se dẫn đến sư kìm ham sư phát triển của nền kinh tế, và điển hình như Mỹ trong giai đoạn Covid vì tung quá nhiều tiền để cứu trợ và hâu quả gây ra hâu covid là lạm phát ở Mỹ cao ngất buộc FED phải ra các chính sách là tăng lai suất để giảm lạm phát và rồi là sư sụp đổ của các ngân hàng lớn ở nước này. Từ đó có thể thấy sư không phù hợp trong chính sách se ảnh hưởng và dẫn đến sư thiếu an toàn trong việc cho vay tín dụng. Nguyên nhân từ người đi vay - Người đi vay không có khả năng trả nợ: Đây là trường hợp có xác suất xảy ra cao hơn bởi bắt nguồn từ việc khách hàng thiếu năng lưc trong việc quản lý tài chính, sử dụng vôn vay không đúng mục đích, tiền vay không có tác dụng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, dẫn đến tình trạng 9 doanh nghiệp vay vôn hoạt động kém hiệu quả, nợ phải trả tăng và một trong sô đó là nợ phải trả cho ngân hàng. Ngoài việc doanh nghiệp sử dụng vôn không đúng mục đích thì việc doanh nghiệp mất năng lưc trả nợ là bởi vì trình độ quản lý yếu kém khi sử dụng tỷ trọng vôn vay quá lớn trong tổng nguồn vôn khiến cho năng suất hoạt động không đủ để bù lại khoản trả lai vay.
- Người đi vay không có thiện chí trả nợ và cố tình chiếm dụng vốn từ ngân hàng: Rất nhiều cá nhân tổ chức vì một mục đích nào đó se cô tình cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch, không trung thưc về thông tin cá nhân, thông tin doanh nghiệp và hơn nữa là mua chuộc nhân viên ngân hàng trong việc thẩm định dư án đầu tư của ngân hàng để nhằm ngân hàng giải ngân cho các khoản vay “ma” và vụ việc chiếm đoạt tài sản lớn nhất từ trước đến giờ vụ Vạn Thịnh Phát chiếm đoạt hơn 1 triệu tỷ đồng của ngân hàng cổ phần Sài Gòn. Ngoài ra, các cá nhân tổ chức còn có hành vi cô tình không trả nợ đúng hạn nhằm kéo dài thời gian trả nợ để có thể tiếp tục sử dụng vôn vay dài lâu cũng như không có ý định trả nợ cho ngân hàng. Nguyên nhân từ ngân hàng Nguyên nhân khách quan từ bên ngoài và khách hàng thì cũng không thể thiếu nguyên nhân chủ quan từ ngân hàng. Từ hai nguyên nhân đề câp trước đó là các cá nhân hoặc doanh nghiệp cung cấp các thông tin giả mạo nhằm qua mắt khâu thẩm định dư án của ngân hàng, tuy nhiên trách nhiệm cũng thuộc về ngân hàng bởi sư yếu kém trong việc kiểm định các thông tin mà người vay cung cấp, yếu kém trong việc đánh giá dư án, thẩm định hồ sơ cho vay vôn còn thiếu sót, trình cho vay đôi vay đôi với dư án với tính khả thi thấp.
Cũng như về mặt đạo đức khi nhân viên thiếu tính trách nhiệm, vi phạm với đạo đức nghề nghiệp khi nhân những khoản mua chuộc, thông đồng với bên đi vay để ngân hàng có thể giải ngân cho khoản vay ấy. Bên cạnh đó, yếu tô từ lanh đạo ngân hàng cũng không kém phần quan trọng khi đa không có thái độ quyết liệt trong công tác chỉ đạo điều hành, công tác kiểm 10 tra trước và sau khi cho vay còn long lẻo dẫn đến phát sinh nhiều rủi ro trong quá trình cho vay, thu hồi nợ khi đến hạn. Sai sót trong quá trình tác nghiệp vì khi cho vay quá mức so với khả năng trả nợ của khách hàng vì không phân tích, thẩm định kỹ lưỡng thì không xác định được khả năng tài chính. Khi tới kỳ trả nợ của các khoản vay se xảy ra trường hợp là doanh nghiệp có khả năng trả nợ tuy nhiên chưa đến kỳ của ngân hàng thì doanh nghiệp se dùng sô tiền này cho việc khác và khi đến kỳ trả nợ thì doanh nghiệp chưa kịp thu hồi dẫn đến gia hạn với ngân hàng.