Chương I: Đặc điểm hoạt động cho vay trong Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong ảnh hưởng đến kiểm toán nội bộ của ngân hàng Chương II: Thực trạng quy trình kiểm toán hoạt động cho vay tại Trung tâm Kiểm toán Nội bộ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong Chương III: Nhận xét và các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán hoạt động cho vay tại Trung.tâm Kiểm toán Nội bộ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong Mặc dù đã cố găng trong việc hoàn thiện chuyên đề thực tập nhưng bài viết vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các Chuyên đề thực tập — Nguyễn Diệu Linh TS. Dinh Thế Hùng thầy, các cô trong bộ môn kiểm toán, các anh chị tại Trung tâm Kiểm toán Nội bộ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Thay giáo TS Đinh Thế Hùng đã hỗ trợ và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn ! Hà Nội. ngày 6 thang 5 năm 2017 Sinh viên Nguyễn Diệu Linh Chuyên đề thực tập — Nguyễn Diệu Linh TS. Đinh Thế Hùng CHUONG 1: ĐẶC DIEM HOAT ĐỘNG CHO VAY TRONG NGAN HANG THUONG MAI CO PHAN TIEN PHONG ANH HUONG DEN KIEM TOAN NOI BO CUA NGAN HANG 1. Đặc điểm của hoạt động cho vay va các loại hình cho vay trong ngân hàng thương mai ảnh hưởng tới kiểm toán nội bộ 1.
Đặc điểm và chức năng của hoạt động cho vay và các loại hình cho vay trong Ngân hàng Thương mại Cé phan 1. Khái niệm của tín dung ngân hang và hoạt động cho vay Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà sử học và kinh tế học, hoạt động vay mượn đã xuất hiện từ 2000 — 1500 năm trước Công Nguyên. Thậm chí, hoạt động tín dụng còn ra đời trước sự xuất hiện của các ngân hàng. Thuật ngữ “tín dụng” xuất phat từ chữ la — tinh “credo”.
Dich ra tiếng Việt, đây có nghĩa là tin tưởng, tin nhiệm. Trong thực tế cuộc sống. thuật ngữ “tín dụng” được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Ngay cả trong quan hệ tài chính, dựa vào từng bối cảnh cụ thể, hoạt động tín dụng lại có một nội dung riêng.
Tín dụng có thé là sự trao déi các tài sản hiện có dé nhận các tai sản cùng loại trong tương lai. Tín dụng cũng có thể là quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn, với giá cả là lãi suất. Tin dụng là quan hệ kinh tế, theo đó một người thỏa thuận để người khác sử dụng số tiền của mình trong một thời gian nhất định với các điều kiện có hoàn trả vốn và lãi. Một cách chung nhất, với việc xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của hoạt động ngân hàng, thì tín dụng ngân hàng được định nghĩa như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thé khác).
trong đó bên cho vay chuyền giao tai san cho bên đi vay sử dung trong mot thoi han nhat dinh theo thoa thuận. bên di vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Liên quan đến định nghĩa tín dụng, hoạt động cấp tín dụng đã được định nghĩa trong Luật Các Tổ chức Tín Dụng như sau: » Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng Chuyên đề thực tập — Nguyễn Diệu Linh TS. Đinh Thế Hùng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán.
bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. (Khoản 14 Điều 4 Luật Các Tổ chức Tín dụng 2010) Từ đó, ta có khái niệm về hoạt động cho vay trong ngân hàng như sau: “ Cho vay là một hình thức cấp tin dung, theo đó tổ chức tin dung giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lai. Đặc điểm của hoạt động cho vay trong ngân hàng Đặc điểm của hoạt động cho vay có vai trò rất quan trọng trong việc quản lý các khoản vay tại ngân hang, đồng thời giúp ích rất nhiều đến quá trình phân tích. chọn mẫu và lựa chọn phương pháp kiểm toán.
Dựa trên các đặc điểm đó, kiểm toán viên sẽ phát hiện những rủi ro tiềm ấn, từ đó có thé đưa ra những mẫu chon mang tính chất đại diện. Cụ thể, hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại gồm các đặc trưng sau: Thứ nhát, về chủ thé, việc cho vay luôn có sự tham gia của hai bên. Bên cho vay là các cá nhân, tổ chức có tài sản chưa cần dùng đến, vì thé họ muốn cho người khác sử dụng dé thỏa mãn một số lợi ich của mình. bên vay là các cá nhân, tổ chức đang có mong muốn sử dụng tài sản đó để phục vụ nhu cầu của minh.
Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay được thể hiện dưới dang hợp đồng tín dụng tài sản. Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền (hay tài sản) nhất định là các vật cùng loại. Tứ tw, quan hệ cho vay phải được thiết lập trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa hai bên. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc hoàn tra, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng, phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn.
Trong thực tế, một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng đến chat lượng tin dụng. Điều này cần được chú ý khi thực hiện kiểm toán, kiểm tra việc giải ngân trên cơ sở kiểm soát mục đích sử dụng vốn, khả năng trả nợ, TSDB. Chuyên đề thực tập - Nguyễn Diệu Linh TS. Đinh Thế Hùng Thứ năm, giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị cho vay.
Nói cách khác, người đi vay phải trả thêm phan lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên tắc nay, phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương. Lãi suất thực dương được xác định theo công thức sau: Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa — Ty lệ lạm phát Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. nên trong một số trường hợp cụ thé, lãi suất danh nghĩa có thé thấp hơn lạm phat, và điều này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
Thứ sáu, cũng là đặc điểm quan trọng nhất của tín dụng cũng như hoạt động cho vay ngân hàng, đồng thời là nguyên tắc cấp tín dụng, là mục đích sử dụng vốn vay, khả năng trả nợ của người đi vay và các loại hình bảo đảm cho khoản vay đó. Kiểm toán nội bộ thực hiện trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc đó được thực hiện đúng và đầy đủ. Phân loại hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại Phân loại hoạt động cho vay là việc sắp xếp các khoản vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại hoạt động cho vay một cách có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập quy trình cho vay phù hợp và nâng cao hiệu quả quản tri rủi ro tín dụng.
Bên cạnh đó, cũng như việc năm rõ các đặc điểm của hoạt động cho vay, việc phân loại các loại hình cho vay khác nhau dựa trên đặc điểm của từng loại cũng giúp ích rất nhiều trong quá trình phân tích. chọn mẫu và lựa chọn phương pháp kiểm toán. Cơ bản, hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại được chia theo các đặc trưng sau: e Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: Đây là phương thức cho vay dựa vào mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Một số mục đích chủ yếu mà khách hàng vay vốn hay sử dụng như: - Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay đối với cá nhân nhằm đáp ứng các nhu cầu mua sắm hàng hóa tiêu dùng như vay dé mua 6 tô.
trang thiết bi, vật dụng trong nhà. - Cho vay sản xuất, kinh doanh: là loại cho vay đối với doanh nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh kiếm lời. ® Phân loại theo thời hạn cho vay: - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 01 năm, được sử dụng để Chuyên đề thực tập - Nguyễn Diệu Linh TS. Đinh Thế Hùng bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngăn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ trên 01 năm đến 05 năm, được sử dụng với mục đích mua sắm tai sản cô định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị. công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh do, hình thức cho vay trung hạn còn là nguồn b6 sung vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp mới thành lập. - Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, được dùng để cung cấp.
đáp ứng nhu cầu dai hạn như xây dựng nhà ở. xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xa, sân bay, bến cảng, dây chuyền. thiết bị để mở rộng sản xuất có quy mô lớn. e Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: - Cho vay có bảo dam: là loại cho vay có TSĐB như thé chap, cam có, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba.
Loại hình này thường được áp dụng đối với khách hàng mới, với mức độ tin tưởng chưa cao, hoặc các món vay có giá trị lớn, nhờ đó đảm bảo an toàn cho ngân hàng. - Cho vay không có bảo dam: là loại cho vay không có tài sản thé chap, cam có hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng. e Phân loại theo phương pháp hoàn trả: - Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng (cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ - thanh toán một lần.