CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CHO VAY TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM) 1.1 Khái niệm về tín dụng cho vay của Ngân hàng thương mại Theo định nghĩa tại Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [8]. Như vậy, cho vay là một trong những hình thức của hoạt động cấp tín dụng và là giao dịch tài sản giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, tổ chức kinh tế). Trong giao dịch này, bên cho vay sẽ chuyển giao tài sản là vốn cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay sẽ có trách nhiệm hoàn trả số tiền vay Ngân hàng cùng với lãi suất đã được thống nhất từ trước.
Trong giới hạn của đề tài, tác giả xin gọi tắt tín dụng cho vay để chỉ hoạt động của Ngân hàng khi cho một cá nhân hay một pháp nhân vay vốn bằng một hợp đồng tín dụng cụ thể quy định rõ số tiền vay vốn, mục đích vay vốn, lãi suất vay vốn, thời hạn vay vốn, tài sản bảo đảm … và không bảo gồm các hoạt động tín dụng bảo lãnh, tín dụng chiết khấu … 1.2 Bản chất của tín dụng cho vay của Ngân hàng thương mại Hoạt động tín dụng nguyên sơ (xuất hiện dưới hình thức vay mượn) đã xuất hiện từ thời kỳ cuối của xã hội công xã nguyên thủy khi xã hội có phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hóa. Khi lực lượng sản xuất phát triển, chế độ tư hữu ra đời đã dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ công xã. Người giàu tập 5 trung trong tay của cải và tiền tệ, người nghèo vì thiếu tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt nên phải đi vay người giàu và chịu lãi nặng. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể tham gia nền kinh tế đều cần vốn để hoạt động hoặc nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Tuy nhiên, nguồn vốn tự có thường không đủ, trong khi đó, ở một chủ thể khác lại đang có vốn nhàn rỗi. Sự tương tác giữa các chủ thể kinh tế giúp các khoản vốn được luân chuyển từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn, giúp người thiếu vốn tìm cách bù đắp được sự thiếu hụt vốn của mình với chi phí thấp nhất. Hay nói rõ hơn, bản chất của tín dụng cho vay là quan hệ vay mượn giữa người cho vay và người đi vay. Họ gặp nhau ở điểm cân bằng giữa nhu cầu vay vốn tiền tệ và khả năng đáp ứng nhu cầu này theo những những nguyên tắc tín dụng.2 Rủi ro tín dụng (RRTD) cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng cho vay của Ngân hàng thương mại Theo Điều 2 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [10].
Như vậy, rủi ro tín dụng cho vay, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận vay vốn không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng, gây tổn thất cho Ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro được phân chia thành các loại sau: - Rủi ro giao dịch Là một hình thức của rủi ro tín dụng cho vay mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. - Rủi ro lựa chọn Là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi Ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. 6 - Rủi ro đảm bảo Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn, điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại Là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay.
- Rủi ro tập trung Là rủi ro trong trường hợp Ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định.2 Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan - Rủi ro khách quan Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, môi trường tự nhiên, môi trường pháp lý thay đổi; người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác. - Rủi ro chủ quan Là rủi ro do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.3 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn Là rủi ro khi đến thời hạn quy ước trong các văn bản đã ký nhưng Ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. 7 - Rủi ro do không có khả năng trả nợ Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng chi trả, Ngân hàng phải thanh lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp để thu nợ. - Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của Ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên Ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1.3 Những chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1 Các chỉ tiêu định tính Các chỉ tiêu định tính phản ánh rủi ro khi Ngân hàng cho vay bao gồm: - Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng do Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động tín dụng cho vay để sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho vay.
Mục đích của chính sách tín dụng nhằm xác định giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín dụng, thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng và bảo đảm quyết định tín dụng được khách quan, tuân thủ quy định của Ngân hàng nhà nước. - Quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước thực hiện công việc của nhân viên Ngân hàng thương mại từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng chođến khi thanh lý khoản vay. Quy trình tín dụng hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. - Cơ cấu tín dụng Phản ánh mức độ tập trung tín dụng cho vay trong một ngành nghề, lĩnh vực, thời hạn, mục đích vay vốn.
Nếu cơ cấu tín dụng quá thiên lệch vào những lĩnh vực mạo hiểm hay thời hạn vay quá dài, không cân đối cho vay ngắn hạn – trung dài hạn … sẽ phản ánh rủi ro tín dụng tiềm năng. Cơ cấu tín dụng chia theo các nhóm: cơ cấu tín dụng theo ngành; cơ cấu tín dụng theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).2 Các chỉ tiêu định lượng Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng cho vay tại các Ngân hàng thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó trực tiếp phản ánh rủi ro tín dụng cho vay của ngân hàng, cụ thể: - Quy mô tín dụng Quy mô tín dụng thể hiện rõ qua các chỉ tiêu: Dư nợ trên tổng tài sản = Tổng dư nợ/Tổng tài sản Dư nợ trên tổng huy động = Tổng dư nợ/Tổng huy động Dư nợ bình quân trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng dư nợ/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân Số lượng khách hàng trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng số khách hàng/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế = Tốc độ tăng trưởng tín dụng/Tốc độ tăng trưởng kinh tế Nếu Ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng quá mức sẽ dẫn đến mất cân đối thanh khoản và không thể quản lý hiệu quả tất cả các món vay của khách hàng. - Tỷ lệ nợ quá hạn Theo quy định tại Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng nhà nước (được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 sau đây gọi tắt là Quyết định 493) thì “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Tùy thuộc vào thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ nợ quá hạn được tính bằng công thức = Dư nợ quá hạn/Tổng dư nợ x 100% [10]. - Tỷ lệ nợ xấu Là các khoản tiền cho khách hàng vay nhưng khó hoặc không thể thu hồi được do Khách hàng đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng.