chương 1, tác giả đưa ra tầm quan trọng của ngành thủy sản cũng như vai trò của thanh khoản đối với các DN thủy sản giao dịch trên TTCK Việt Nam. Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu: “Phân tích các nhân tố tác động đến thanh khoản của các công ty thủy sản giao dịch trên TTCK Việt Nam”. Sau đó, từ đề tài nghiên cứu tác giả đưa ra các mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cho đề tài của mình đã lựa chọn. Đề tài nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định đối với thực tiễn và cơ sở khoa học.
6 CHƯƠNG 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 2.1 Thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản.1 Thanh khoản Thanh khoản là một khái niệm trong tài chính, thanh khoản để chỉ mức độ một tài sản bất kì có thể giao dịch trên thị trường mà không làm thay đổi giá trị của tài sản đó, một tài sản được coi là có TTK cao là tài sản mà có thể mua, bán trên thị trường một cách nhanh chóng mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Theo Nguyễn Văn Dương (2022) TTK của DN là khả năng huy động được tiền khi công ty cần. Nó được đánh gía ở hai khía cạnh đó là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán các khoản nợ. TTK chỉ ra khả năng của các DN trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của họ.
Nó có một vai trò quan trọng trong việc vận hành được mọi hoạt động của một DN (Mohamad, 2019). Theo Shim và Siegel (2000) TTK là khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của DN (trong vòng một năm). Đảm bảo được TTK cao là mục tiêu để đảm bảo sự hoạt động liên tục của công ty. Để đo lường khả năng của công ty trong việc đáp ứng các nghĩa vụ NNH bằng cách sử dụng tài sản.
Đó là, TTK kế toán mà các công ty cần đảm bảo và có những dự tính trong tương lai cho những khoản nợ này. Các nhà quản trị DN cần quan tâm đến luồng tiền của DN mình để xem xét rằng có thể mua sắm và chi tiêu cần thiết hay không, đặc biệt là có thể thanh toán các khoản NNH cũng như dài hạn trong thời gian tới. TTK của DN cũng được nhiều bên liên quan quan tâm như: Ngân hàng, nhà cung cấp… Nếu như ngân hàng quan tâm đến TTK để ra quyết định cho vay thì các nhà cung cấp hàng hóa quan tâm đến việc DN có khả năng thanh toán được các khoản công nợ khi đến hạn hay không. Nếu DN có TTK tốt thì DN có thể lấy được uy tín trong kinh doanh.
Một số nhà đầu tư mong muốn đầu tư chứng khoán vào DN họ cũng sẽ quan tâm đến các chỉ số thanh khoản trên BCTC xem xét DN có đủ khả năng để thanh toán các khoản nợ hay không để ra quyết định đầu tư. 7 Tóm lại, trong tài chính, thanh khoản chính là khả năng mà DN có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cũng như dài hạn. Nhưng để đảm bảo được TTK cao thì DN cần đáp ứng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn thay vì dài hạn. Điều này sẽ giúp DN giải quyết các khoản nợ và tiếp tục hoạt động trong thời gian trong tương lai.
Theo Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2010) nếu đo lường chỉ tiêu TTK thông thường thì có 3 chỉ tiêu đó là: Hệ số khả năng thanh toán (KNTT) hiện thời, hệ số KNTT nhanh, hệ số KNTT tức thời. Các chỉ tiêu này được tính toán dựa trên số liệu từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, các công thức tính được thể hiện như sau: - Hệ số KNTT hiện thời: Chỉ tiêu này cho ta thấy được mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn (TSNH) và NNH. DN sẽ phải đảm bảo rằng các khoản NNH phải được đầu tư từ TSNH. Công thức tính cho hệ số KNTT hiện thời như sau: TSNH Hệ số KNTT hiện thời= NNH Ý nghĩa của công thức này là một đồng NNH sẽ được bù đắp bởi bao nhiêu đồng TSNH.
Nếu tổng TSNH lớn hơn NNH thì DN đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản NNH. Nhưng ngược lại nếu tổng TSNH nhỏ hơn NNH thì DN không đảm bảo được KNTT. - Hệ số KNTT nhanh: Hệ số này cho đo lường khả năng thanh toán các khoản NNH mà không cần bán hàng tồn kho hay có thêm nguồn tài chính khác. Hệ số KNTT nhanh được tính bằng công thức như sau: 8 Tổng TSNH-Hàng tồn kho Hệ số KNTT nhanh = Tổng NNH Một công ty nếu có hệ số KNTT nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có KNTT các khoản NNH và phải được xem xét cẩn thận.
Mặt khác, nếu tỷ số này nhỏ hơn nhiều so với KNTT hiện hành thì có nghĩa là TSNH của DN phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho. - Hệ số KNTT tức thời: Hệ số này cho đo lường khả năng thanh toán các khoản NNH bằng tiền và các khoản tương đương tiền. Hệ số KNTT tức thời được tính bằng công thức như sau: Tiền và các khoản tương đương tiền Hệ số KNTT tức thời= NNH Hệ số này phản ánh được rằng: Với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, DN có đảm bảo khả năng thanh toán tức thời các khoản nợ ngắn hạn hay không.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản Nhìn trên các báo cáo tài chính của DN thì để đảm bảo được TTK, các DN phải có các tài sản có TTK cao như tiền, hàng tồn kho,…Theo như các nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài thì có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản như: Quy mô công ty, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính,… Quy mô DN Al-Homaidi et al. (2019) nhận định rằng quy mô DN mối tương quan tích cực mạnh mẽ với TTK và hiệu quả hoạt động của các công ty, nhưng quy mô công ty có kết nối có lợi với lợi nhuận của các công ty.
Ferreira và Vilela (2004) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định thanh khoản ở một số quốc gia Châu Âu như: Đức, Áo, Pháp, Hy Lạp, Ý, … trong những năm 1987– 2000. Al-Homaidi et al. (2019) cũng cho rằng nhân tố 9 quy mô DN cũng có tác động cùng chiều với TTK đối với các DN trong lĩnh vực ngân hàng. Tóm lại, các nghiên cứu gần đây cho thấy được sự tác động của nhân tố quy mô doanh nghiệp đến TTK.
Tỷ lệ an toàn vốn Homaidi et al. (2019) cho rằng tỷ lệ an toàn vốn cũng cũng có tác động tích cực đến thanh khoản. Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu (VCSH) với quy mô tổng tài sản của DN. Ở một mức độ nào đó thì VCSH cần đảm bảo một mức nhất định để có thể duy trì hoạt động của DN mà không để các khoản nợ chiếm quá lớn trong tổng tài sản.
Khả năng sinh lời Theo như nghiên cứu của Bagchi và Chakrabarti (2014) thì lợi nhuận của các công ty có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thanh khoản. Ismail (2016) cũng chỉ ra rằng TTK hay các chỉ số chuyển đổi tiền của DN cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các chỉ số sinh lời như ROA và ROE. Những nghiên cứu đó chứng minh được rằng khả năng sinh lời trong DN cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến TTK của DN. Tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
Đòn bẩy tài chính là một nhân tố quan trọng liên quan đến các khoản NPT của một DN vì thế có nhiều nghiên cứu cho thấy được rằng đòn bẩy tài chính cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản. Homaidi et al. (2019) chỉ ra thanh khoản có mối quan hệ đối với đòn bẩy tài chính. Tuổi công ty Tuổi công ty được tính từ khoảng thời gian công ty thành lập đến thời gian hiện nay.
Trong quá trình phát triển thấy được rằng tuổi công ty cũng ảnh hưởng đến tỷ trọng nợ. Trong nghiên cứu của Trần Mạnh Dũng và Nguyễn Nam Tài (2018) thì tuổi công ty có ảnh hưởng cùng chiều đến thanh khoản của các công ty chế biến thực phẩm. 10 Tốc độ tăng trưởng GDP Homaidi et al. (2019) cho thấy chỉ có GDP có ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản, trong khi tỷ lệ lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái có tác động không đáng kể đến TTK.
Điều này chứng minh rằng GDP cũng là một nhân tố quan trọng tác động đến TTK của DN. Tỷ lệ lạm phát, tỷ giá quy đổi và lãi suất cho vay Theo Homaidi et al. (2019), Đặng Thu Hằng (2020) thì các nhân tố như tỷ lệ lạm phát, tỷ giá quy đổi và lãi vay có tác động đến TTK của các công ty niêm yết. Bên cạnh những nhân tố trên cũng có một số nhân tố tác động đến thanh khoản như: Tỷ lệ VCSH, Tỷ lệ nợ xấu và Tỷ lệ lợi nhuận (Vũ Thị Hồng, 2015),.2 Các nghiên cứu về thanh khoản và các nhân tố ảnh hưởng 2.1 Nghiên cứu về lý thuyết nền Lý thuyết đại diện Lý thuyết chi phí đại diện được Jen & Mackling đưa ra vào năm 1976.
Theo Jen & Mackling (1976) thì lý thuyết này đề cập đến mối quan hệ giữa các cổ đông, chủ sở hữu (bên ủy nhiệm) và người quản lý (bên được ủy nhiệm) thực hiện một số công việc đại diện cho bên được ủy nhiệm thông qua hợp đồng, cả hai bên đều tối đa hóa lợi ích của mình. Trong lý thuyết này sẽ là mâu thuẫn lợi ích giữa những người quản lý công ty và các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư thì muốn tối đa hóa lợi ích thu về từ việc mua cổ phiếu hay trái phiếu còn các nhà quản lý thì muốn nâng cao giá trị của công ty. Để thực hiện được điều đó, các nhà quản lý sẽ làm tăng TTK cho các cổ phiếu, khi đó các nhà đầu tư sẽ chỉ nhìn vào TTK bởi vì nó có thể giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư, chính vì thế mà các nhà đầu tư sẽ giảm mức quan tâm đến các yếu tố khác.
Các nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi nhuận nên họ có thể làm ảnh hưởng đến những quyết định của chủ sở hữu (Horne và Wachowicz, 2008). Theo Edmans và Manso (2011) thì cho rằng tính thanh khoản cao của cổ phiếu sẽ nâng cao giá trị của công ty. 11 Đối với các nhà đầu tư thì các cổ phiếu có TTK tốt sẽ đem lại tỷ suất thanh khoản tốt hơn các cổ phiếu khác.